This site is under development, some of the functionalities may not work properly.
Post default

KỸ NĂNG TƯ VẤN- MANG THAI HỘ VÌ MỤC ĐÍCH NHÂN ĐẠO

By Lawr Vn July 26, 2017


Với thành tựu y học ngày càng vượt trội, những cặp vợ chồng hiếm muộn ngày nay càng có thêm nhiều giải pháp cho tình trạng nan giản- muộn có con của họ. Một trong những phương pháp khá phổ biến gần đây đó là mang thai hộ. Chính vì thế, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 đã bắt kịp xu hướng, tạo hành lang pháp lý cho thành tựu kỹ thuật  này để đảm bảo nó được thực hiện với mục đích nhân đạo ban đầu của nó. 

Trước hết, cần hiểu chính xác mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là gì, bởi thuật ngữ này dễ gây nhầm lẫn với cách hiểu khác. Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là việc một người phụ nữ tự nguyện mang thai cho một cặp vợ chồng khác dựa trên cơ sở lấy noãn và tinh trùng của hai vợ chồng bằng phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm cho phát triển thành phôi, phôi này được cấy trở lại dạ con của người phụ nữ mang thai hộ. Sau khi sinh, người phụ nữ này phải trao lại con cho cặp vợ chồng nhờ mang thai hộ.

Như vậy, câu hỏi đầu tiên được đặt ra đó là ai được xác định là cha, mẹ của con được sinh ra. Xét mặt sinh học, việc mang thai hộ không tạo mối quan hệ huyết thống giữa người phụ nữ và đứa trẻ, đứa trẻ mang gen của cặp vợ chồng nhờ mang thai hộ, do đó đứa bé là máu mủ, ruột thịt của cặp vợ chồng nhờ mang thai hộ. Xuất phát từ quan niệm này, Điều 94 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định rằng con sinh ra trong trường hợp mang thai hộ là con chung của vợ chồng nhờ mang thai hộ kể từ thời điểm sinh ra.

Vì thuật ngữ được nêu ra là mang thai hộ vì mục đích nhân đạo cho nên để tránh các trường hợp “đẻ thuê” vì mục đích thương mại, pháp luật đặt ra các điều kiện cho cả bên mang thai hộ và bên nhờ mang thai hộ như sau:

Điều 95. Điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo Luật hôn nhân và gia đình 2014
....
2. Vợ chồng có quyền nhờ người mang thai hộ khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Có xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền về việc người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản;
b) Vợ chồng đang không có con chung;
c) Đã được tư vấn về y tế, pháp lý, tâm lý.
3. Người được nhờ mang thai hộ phải có đủ các điều kiện sau đây:
a) Là người thân thích cùng hàng của bên vợ hoặc bên chồng nhờ mang thai hộ;
b) Đã từng sinh con và chỉ được mang thai hộ một lần;
c) Ở độ tuổi phù hợp và có xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền về khả năng mang thai hộ;
d) Trường hợp người phụ nữ mang thai hộ có chồng thì phải có sự đồng ý bằng văn bản của người chồng;
đ) Đã được tư vấn về y tế, pháp lý, tâm lý.
….”

Tuy nhiên, hồ sơ giấy tờ đề nghị thực hiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là khá nhiều, cụ thể bao gồm 12 loại giấy tờ theo Điều 14 Nghị định 10/2015/NĐ-CP quy định về sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệp và điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo ("Nghị định 10/2015/NĐ-CP")

1) Đơn đề nghị được thực hiện kỹ thuật mang thai hộ theo Mẫu số 04 ban hành kèm theo Nghị định này;
2) Bản cam kết tự nguyện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo theo Mẫu số 05 ban hành kèm theo Nghị định này;
3) Bản cam đoan của người đồng ý mang thai hộ là chưa mang thai hộ lần nào;
4) Bản xác nhận tình trạng chưa có con chung của vợ chồng do Ủy ban nhân dân cấp xã nơi thường trú của vợ chồng nhờ mang thai hộ xác nhận;
5) Bản xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm về việc người vợ có bệnh lý, nếu mang thai sẽ có nhiều nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng của người mẹ, thai nhi và người mẹ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản;
6) Bản xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm đối với người mang thai hộ về khả năng mang thai, đáp ứng quy định đối với người nhận phôi theo quy định tại Khoản 4 Điều 5 Nghị định này và đã từng sinh con;
7) Bản xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc người mang thai hộ, người nhờ mang thai hộ tự mình chứng minh về mối quan hệ thân thích cùng hàng trên cơ sở các giấy tờ hộ tịch có liên quan và chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính xác thực của các giấy tờ này;
8) Bản xác nhận của chồng người mang thai hộ (trường hợp người phụ nữ mang thai hộ có chồng) về việc đồng ý cho mang thai hộ.
9) Bản xác nhận nội dung tư vấn về y tế của bác sỹ sản khoa;
10) Bản xác nhận nội dung tư vấn về tâm lý của người có trình độ đại học chuyên khoa tâm lý trở lên;
11) Bản xác nhận nội dung tư vấn về pháp luật của luật sư hoặc luật gia hoặc người trợ giúp pháp lý;
12) Bản thỏa thuận về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo giữa vợ chồng nhờ mang thai hộ và bên mang thai hộ theo quy định tại Mẫu số 06 ban hành kèm theo Nghị định này.

Bệnh viện sẽ chịu trách nhiệm kiểm tra tính pháp lý của hồ sơ khi tiếp nhận theo Điều 19 Nghị định 10/2015/NĐ-CP và trong thời hạn 30 ngày bệnh viện phải có kế hoạch điều trị để thực hiện mang thai hộ hoặc có văn bản nêu rõ lý do nếu không thể thực hiện được kỹ thuật này theo Khoản 2 Điều 14 Nghị định 10/2015/NĐ-CP.

Hiện tại, theo Nghị định 98/2016/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 10/2015/NĐ-CP ngày 28 tháng 01 năm 2015 của Chính phủ quy định về sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo, tính đến đầu năm 2016, có 3 cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có đủ điều kiện thực hiện ngay kỹ thuật mang thai hộ vì mục đích nhân đạo, đó là Bệnh viện Phụ sản Trung ương; Bệnh viện Đa khoa Trung ương Huế và Bệnh viện Phụ sản Từ Dũ TP. Hồ Chí Minh.
 

Tags:


Default avatar
By Lawr Vn
Licensed for years

Comments 0

Please Login or Register to Submit Comment