This site is under development, some of the functionalities may not work properly.
Anonymous
in Labour Law
Asked May 17, 2017

Bộ luật Lao động - Sa thải người lao động trái luật

  • 1 Answer
  • 242 Views

Công ty của tôi có thuê ông B làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn từ ngày 01/8/2010. Tiền lương 5.000.000 đồng/tháng.Công ty tôi ra quyết định sa thải với ông B từ ngày 1/7/2015 với lý do ông B thường xuyên không hoàn thành công việc theo nội quy lao động của công ty.Hiện tại, ông B đang kiện công ty quyết định sa thải của công ty tôi. Luật sư cho tôi hỏi việc công ty tôi ra quyết định sa thải đối với ông B là đúng hay trái pháp luật? Và hậu quả ra sao nếu quyết định này của chúng tôi là trái luật.

Answer 1

Tính pháp lý của quyết định sa thải người lao động

Theo quy định của pháp luật hiện hành, quyết định sa thải của quý công ty đối với người lao động (ông B) dựa trên lý do “thường xuyên không hoàn thành công việc” là một quyết định trái pháp luật.Bởi lẽ, “không hoàn thành công việc” không là căn cứ để quý công ty áp dụng hình thức kỷ luật đối với người lao động. Theo quy định tại Điều 126 Bộ Luật Lao Động năm 2012, hình thức xử lý kỷ luật sa thải được người sử dụng lao động áp dụng trong các trường hợp sau:

1. Người lao động có hành vi trộm cắp, tham ô, đánh bạc, cố ý gây thương tích, sử dụng ma tuý trong phạm vi nơi làm việc, tiết lộ bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của người sử dụng lao động, có hành vi gây thiệt hại nghiêm trọng hoặc đe doạ gây thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng về tài sản, lợi ích của người sử dụng lao động;

2. Người lao động bị xử lý kỷ luật kéo dài thời hạn nâng lương mà tái phạm trong thời gian chưa xoá kỷ luật hoặc bị xử lý kỷ luật cách chức mà tái phạm.

Tái phạm là trường hợp người lao động lặp lại hành vi vi phạm đã bị xử lý kỷ luật mà chưa được xóa kỷ luật theo quy định tại Điều 127 của Bộ luật này;

3. Người lao động tự ý bỏ việc 05 ngày cộng dồn trong 01 tháng hoặc 20 ngày cộng dồn trong 01 năm mà không có lý do chính đáng.

Hậu quả pháp lý của việc sa thải người lao động trái pháp luật

Căn cứ theo Điều 42 Bộ Luật Lao Động 2012 và Khoản 3 Điều 33 Nghị định 05/2015/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số nội dung của Bộ luật Lao Động thì quý công ty đã ra quyết định sa thải trái pháp luật đối với người lao động; do đó quý công ty có các nghĩa vụ sau:

  • nhận người lao động trở lại làm việc,
  • phải trả tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong những ngày người lao động không được làm việc; và
  • phải bồi thường ít nhất 2 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.
  • Ngoài ra, nếu người lao động không muốn tiếp tục làm việc, thì quý công ty còn phải trả trợ cấp thôi việc. Ngược lại,trong trường hợp quý công ty không muốn nhận lại người lao động và họ đồng ý, thì hai bên thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm nhưng ít nhất bằng 02 tháng lương để chấm dứt hợp đồng. Đối với trường hợp không còn vị trí, công việc như trong hợp đồng mà người lao động vẫn muốn làm việc, hai bên thương lượng để bổ sung hợp đồng.

    [Khoản 3 Điều 33 Nghị định 05/2015/NĐ-CP Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số nội dung của Bộ luật Lao Động]

    Điều 33. Khiếu nại về kỷ luật lao động, trách nhiệm vật chất

    3. Người sử dụng lao động phải khôi phục quyền và lợi ích của người lao động bị vi phạm do quyết định xử lý kỷ luật lao động hoặc quyết định tạm đình chỉ công việc hoặc quyết định bồi thường thiệt hại của người sử dụng lao động. Trường hợp kỷ luật lao động bằng hình thức sa thải trái pháp luật thì người sử dụng lao động có nghĩa vụ thực hiện các quy định các Khoản 1, 2, 3 và 4 Điều 42 của Bộ luật Lao động.”

    [Khoản 1,2,3 và 4 Điều 42 Bộ luật Lao Động 2012]

    Điều 42. Nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

    1. Phải nhận người lao động trở lại làm việc theo hợp đồng lao động đã giao kết và phải trả tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong những ngày người lao động không được làm việc cộng với ít nhất 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

    2. Trường hợp người lao động không muốn tiếp tục làm việc, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này người sử dụng lao động phải trả trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này.

    3. Trường hợp người sử dụng lao động không muốn nhận lại người lao động và người lao động đồng ý, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này và trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này, hai bên thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng lao động.

    4. Trường hợp không còn vị trí, công việc đã giao kết trong hợp đồng lao động mà người lao động vẫn muốn làm việc thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này, hai bên thương lượng để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động.”

    Chúng tôi hy vọng những phần tư vấn trên sẽ giúp quý khách giải đáp được những thắc mắc của mình. Xin vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi để chúng tôi có thể cung cấp dịch vụ tư vấn pháp lý tốt nhất cho quý khách.

    Agree Comment 0 Agrees almost 4 years ago

    Please Login or Register to Submit Answer

    Directory ads
    Need to talk to a lawyer?

    Book a phone consultation with a top-rated lawyer on Lawfarm.