This site is under development, some of the functionalities may not work properly.
Anonymous
in Labour Law
Asked May 17, 2017

Bộ luật lao động – Người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động

  • 1 Answer
  • 239 Views

Tôi làm thợ điện tại doanh nghiệp dệt M với hợp đồng lao động có thời hạn 36 tháng. Làm việc được 1 năm, do có giấy phép ra thăm thân nhân ở nước ngoài nên tôi xin nghỉ không hưởng lương trong thời gian 2 tháng, Giám đốc doanh nghiệp chấp thuận yêu cầu của tôi và tìm người thay thế trong thời gian đó. Tôi có giới thiệu anh A là bạn học nghề với tôi. Sau khi kiểm tra, giám đốc chấp thuận anh A vào làm việc. Làm việc được 1 tháng, trong một lần trực điện ca ba, do đóng nhầm điện áp gây hỏng máy móc và sản phẩm của doanh nghiệp, anh A bỏ trốn. Khi hết hạn nghỉ, tôi trở lại làm việc thì được công ty thông báo toàn bộ sự việc và yêu cầu tôi phải liên đới bồi thường thiệt hại đã xảy ra. Tôi không chấp nhận bồi thường. Lấy lý do đó, công ty ra quyết định chấm dứt hợp đồng lao động với tôi và vẫn yêu cầu phải bồi thường thiệt hại. Xin cho tôi biết quyết định của công ty với tôi là đúng hay sai?

Answer 1

Trách nhiệm liên đới bồi thường

Theo quy định của pháp luật hiện hành, trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại phát sinh trong trường hợp chính người đó cùng góp phần gây ra thiệt hại, bởi dựa vào đó có thể xác định mức độ lỗi của từng người. Tuy nhiên, trọng vụ việc này, anh A tự mình gây ra thiệt hại khi quý khách đang trong thời gian tạm hoãn hợp đồng lao động với công ty. Do đó, việc yêu cầu quý khách liên đới chịu trách nhiệm bồi thường là một yêu cầu vô căn cứ.

[Điều 587 Bộ luật Dân Sự 2015]

Điều  587. Bồi thường thiệt hại do nhiều người cùng gây ra

Trường hợp nhiều người cùng gây thiệt hại thì những người đó phải liên đới bồi thường cho người bị thiệt hại. Trách nhiệm bồi thường của từng người cùng gây thiệt hại được xác định tương ứng với mức độ lỗi của mỗi người; nếu không xác định được mức độ lỗi thì họ phải bồi thường thiệt hại theo phần bằng nhau.”

Người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động

Giữa công ty và quý khách đã tồn tại hợp đồng lao động xác định thời hạn, khi công ty muốn đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với quý khách, công ty phải tuân thủ các điều kiện về căn cứ chấm dứt hợp đồng lao động và nghĩa vụ báo trước cho người lao động.

Thứ nhất, về căn cứ chấm dứt hợp đồng lao động, công ty dựa vào lý do quý khách không đồng ý liên đới bồi thường thiệt hại do anh A gây ra để ra quyết định chấm dứt hợp đồng lao động với quý khách. Đây là một căn cứ không hợp pháp. Bởi, theo quy định tại Điều 38 Bộ luật Lao Động 2012, các căn cứ được người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động gồm:

(i) Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động;

(ii) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, đã điều trị 06 tháng liên tục, đối với người lao động làm theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và quá nửa thời hạn hợp đồng lao động đối với người làm theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục.

(iii) Do thiên tai, hỏa hoạn hoặc những lý do bất khả kháng khác theo quy định của pháp luật, mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải thu hẹp sản xuất, giảm chỗ làm việc;

(iv) Người lao động không có mặt tại nơi làm việc sau thời hạn quy định tại Điều 33 của Bộ luật này.

Thứ hai, về thời hạn báo trước, do giữa quý khách và công ty có xác lập hợp đồng lao động có xác định thời hạn là 36 tháng nên, khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, người sử dụng lao động phải báo trước cho quý khách ít nhất 30 ngày.

[Khoản 2 Điều 38 Bộ luật Lao Động 2012]

Điều 38. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động

2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động người sử dụng lao động phải báo cho người lao động biết trước:

a) Ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn;

b) Ít nhất 30 ngày đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn;

c) Ít nhất 03 ngày làm việc đối với trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này và đối với hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng.”

Như vậy, có thể thấy rằng quyết định sa thải của công ty với quý khách là một quyết định trái luật, khi không tuân thủ cả quy định về căn cứ và thời gian báo trước do luật định.

Hậu quả pháp lý khi người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái luật

Căn cứ theo Điều 42 Bộ Luật Lao Động 2012 thì công ty đã ra quyết định đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật đối với quý khách; do đó công ty có các nghĩa vụ sau:

  • nhận quý khách trở lại làm việc,
  • phải trả tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong những ngày quý khách không được làm việc;
  • phải bồi thường ít nhất 2 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.
  • Ngoài ra, nếu quý khách không muốn tiếp tục làm việc, thì công ty còn phải trả trợ cấp thôi việc. Ngược lại, trong trường hợp công ty không muốn nhận lại quý khách và quý khách đồng ý, thì hai bên thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm nhưng ít nhất bằng 02 tháng lương để chấm dứt hợp đồng. Đối với trường hợp không còn vị trí, công việc như trong hợp đồng mà quý khách vẫn muốn làm việc, hai bên thương lượng để bổ sung hợp đồng. Nếu công ty vi phạm nghĩa vụ báo trước thì công ty còn phải bồi thường cho quý khách một khoản tiền tương ứng với tiền lương trong những ngày không báo trước.

    Điều 42. Nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

    1. Phải nhận người lao động trở lại làm việc theo hợp đồng lao động đã giao kết và phải trả tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong những ngày người lao động không được làm việc cộng với ít nhất 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

    2. Trường hợp người lao động không muốn tiếp tục làm việc, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này người sử dụng lao động phải trả trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này.

    3. Trường hợp người sử dụng lao động không muốn nhận lại người lao động và người lao động đồng ý, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này và trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này, hai bên thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng lao động.

    4. Trường hợp không còn vị trí, công việc đã giao kết trong hợp đồng lao động mà người lao động vẫn muốn làm việc thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này, hai bên thương lượng để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động.

    5.Trường hợp vi phạm về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người lao động một khoản tiền tương ứng với số tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước”

    Chúng tôi hy vọng những phần tư vấn trên sẽ giúp quý khách giải đáp được những thắc mắc của mình. Xin vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi để chúng tôi có thể cung cấp dịch vụ tư vấn pháp lý tốt nhất cho quý khách.

    Agree Comment 0 Agrees almost 4 years ago

    Please Login or Register to Submit Answer

    Directory ads
    Need to talk to a lawyer?

    Book a phone consultation with a top-rated lawyer on Lawfarm.