This site is under development, some of the functionalities may not work properly.
Anonymous
in Civil Procedure Law
Asked May 15, 2017

Bộ luật Tố tụng dân sự - Lời khai của người làm chứng

  • 1 Answer
  • 277 Views

Năm ngoái, tôi có ký một hợp đồng gia công với ông A về việc gia công cửa sắt, theo hợp đồng, ông A sẽ trả tiền gia công cho tôi khi công việc hoàn tất. Hợp đồng chỉ lập một bản và do tôi giữ, nhưng hiện nay tôi đã làm mất hợp đồng này. Công việc gia công đã hoàn thành từ lâu, mặc dù tôi đã nhiều lần thông báo nhưng ông A vẫn chưa trả tiền cho tôi. Tôi xin hỏi Luật sư trong trường hợp này, tôi có thể khởi kiện yêu cầu ông A trả tiền được không? Tôi không có bằng chứng gì vì hợp đồng đã bị mất, chỉ có chị B là người cùng làm với tôi đã chứng kiến việc ký kết hợp đồng giữa tôi và ông A.

Answer 1

Theo quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, trong trường hợp này, quý khách có quyền khởi kiện yêu cầu ông A trả tiền công và có thể sử dụng lời khai của chị B để chứng minh cho yêu cầu hợp pháp của quý khách.

Dựa vào những thông tin mà quý khách cung cấp, hợp đồng mà quý khách giao kết cùng ông A về việc gia công cửa sắt vào năm ngoái được xác định là hợp đồng gia công. Căn cứ theo quy định tại Điều 547 Bộ luật Dân sự 2005, hợp đồng gia công là “sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên nhận gia công thực hiện công việc để tạo ra sản phẩm theo yêu cầu của bên đặt gia công, còn bên đặt gia công nhận sản phẩm và trả tiền công.”

Căn cứ theo quy định tại Khoản 3 Điều 549 Bộ luật Dân sự 2005, ông A có nghĩa vụ “trả tiền công theo đúng thoả thuận”. Do đó, việc quý khách nhiều lần thông báo nhưng ông A không trả tiền công khi công việc gia công đã hoàn thành được xem là hành vi vi phạm hợp đồng của ông A và quý khách có thể khởi kiện tại Tòa án có thẩm quyền buộc ông A phải thực hiện nghĩa vụ này.

Khoản 1 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 có quy định:

Điều 91. Nghĩa vụ chứng minh

1. Đương sự có yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp.”

Theo đó, quý khách có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ [hợp đồng gia công đã giao kết với ông A và lời khách của quý khách, chị B] để chứng minh yêu cầu Tòa án buộc ông A phải trả tiền công là hợp pháp. Tuy nhiên, hợp đồng gia công chỉ được lập một bản và quý khách giữ nhưng đã bị mất; do đó, chỉ có lời khai của quý khách, chị B có thể được Tòa án chấp nhận là chứng cứ. Lời khai của quý khách, lời khai của chị B được xác định là nguồn của chứng cứ căn cứ theo quy định tại Khoản 3, 4 Điều 94 Bộ luật Tố tụng dân sự 2005:

Điều 94. Nguồn chứng cứ

Chứng cứ được thu thập từ các nguồn sau đây:

            3. Lời khai của đương sự.

4. Lời khai của người làm chứng.”

Chị B được xác định là người làm chứng nếu được quý khách đề nghị hoặc Tòa án triệu tập tham gia tố tụng, căn cứ theo quy định tại Điều 77 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015:

Điều 77. Người làm chứng

Người biết các tình tiết có liên quan đến nội dung vụ việc được đương sự đề nghị, Tòa án triệu tập tham gia tố tụng với tư cách là người làm chứng. Người mất năng lực hành vi dân sự không thể là người làm chứng.”

Căn cứ theo quy định tại Khoản 5 Điều 95 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, để được công nhận là chứng cứ, lời khai của quý khách và chị B phải được khai bằng lời tại phiên tòa:

“Lời khai của đương sự, lời khai của người làm chứng được coi là chứng cứ nếu được ghi bằng văn bản, băng ghi âm, đĩa ghi âm, băng ghi hình, đĩa ghi hình, thiết bị khác chứa âm thanh, hình ảnh theo quy định tại khoản 2 Điều này hoặc khai bằng lời tại phiên tòa.”

Chúng tôi hi vọng những phần tư vấn trên đây sẽ giúp quý khách giải đáp được các thắc mắc của mình. Xin vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi để chúng tôi có thể cung cấp dịch vụ tư vấn pháp lý tốt nhất cho quý khách.

Agree Comment 0 Agrees almost 4 years ago

Please Login or Register to Submit Answer

Directory ads
Need to talk to a lawyer?

Book a phone consultation with a top-rated lawyer on Lawfarm.