This site is under development, some of the functionalities may not work properly.
Anonymous
in Civil Law
Asked May 08, 2017

Luật Dân sự - Chiếm hữu, sử dụng tài sản của người khác mà không có căn cứ pháp lý

  • 1 Answer
  • 179 Views

Anh trai tôi trong một lần giao dịch qua ngân hàng đã gửi nhầm tiền vào tài khoản của B 100.000.000 đồng. Sau này chúng tôi biết được rằng, B đã gửi khoản tiền này vào ngân hàng để lấy lãi. Anh trai tôi yêu cầu B hoàn trả 100.000.000 đồng và khoản tiền lãi phát sinh. B không đồng ý. Xin hỏi theo pháp luật hiện hành, trong trường hợp này, anh trai tôi có lấy lại được khoản tiền 100.000.000 đồng và tiền lãi không?

Answer 1

Chiếm hữu, sử dụng tài sản của người khác mà không có căn cứ pháp lý

Theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, Điều 183 Bộ luật Dân sự 2005 liệt kê các trường hợp chiếm hữu có căn cứ pháp luật bao gồm:

1. Chủ sở hữu chiếm hữu tài sản;

2. Người được chủ sở hữu ủy quyền quản lý tài sản;

3. Người được chuyển giao quyền chiếm hữu thông qua giao dịch dân sự phù hợp với quy định của pháp luật;

4. Người phát hiện và giữ tài sản vô chủ, tài sản không xác định được ai là chủ sở hữu, tài sản bị đánh rơi, bị bỏ quên, bị chôn giấu, bị chìm đắm phù hợp với các điều kiện do pháp luật quy định;

5. Người phát hiện và giữ gia súc, gia cầm, vật nuôi dưới nước bị thất lạc phù hợp với các điều kiện do pháp luật quy định; hoặc

6. Các trường hợp khác do pháp luật quy định.

Theo như quy định tại Điều 189 Bộ luật Dân sự 2005 thì “việc chiếm hữu tài sản không phù hợp với quy định tại Điều 183 của Bộ luật Dân sự 2005 là chiếm hữu không có căn cứ pháp luật”. Theo đó, dựa trên thông tin quý khách cung cấp cho chúng tôi, việc B có được 100.000.000 đồng trong tài khoản do anh trai quý khách gửi nhầm được xem là chiếm hữu không có căn cứ pháp luật. Do vậy, đối với khoản tiền này, B phải có nghĩa vụ hoàn trả cho chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp tài sản đó [anh trai quý khách] theo như quy định tại Khoản 1 Điều 599 Bộ luật Dân sự 2005. Cụ thể:

Người chiếm hữu, người sử dụng tài sản của người khác mà không có căn cứ pháp luật thì phải hoàn trả cho chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp tài sản đó; nếu không tìm được chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp tài sản đó thì phải giao cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 247 của Bộ luật này.

Tiền lãi phát sinh từ số tiền 100.000.000 đồng

Về khoản tiền lãi phát sinh do B gửi 100.000.000 đồng vào ngân hàng, đây được xác định là lợi tức, bởi lẽ Khoản 2 Điều 175 Bộ luật Dân sự 2005 quy định “lợi tức là các khoản lợi thu được từ việc khai thác tài sản”. Về nghĩa vụ hoàn trả hoa lợi, lợi tức thì Điều 601 Bộ luật Dân sự 2005 quy định như sau:

1. Người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản mà không có căn cứ pháp luật và không ngay tình thì phải hoàn trả hoa lợi, lợi tức thu được từ thời điểm chiếm hữu, sử dụng tài sản, được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật.

2. Người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản mà không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình thì phải hoàn trả hoa lợi, lợi tức thu được từ thời điểm người đó biết hoặc phải biết việc chiếm hữu, sử dụng tài sản, được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 247 của Bộ luật này.

Như vậy, việc B có phải trả cho anh trai quý khách khoản tiền lãi hay không phụ thuộc vào việc B có ngay tình hay không. Theo đó, Điều 189 Bộ luật Dân sự 2005 định nghĩa “người chiếm hữu tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình là người chiếm hữu mà không biết và không thể biết việc chiếm hữu tài sản đó là không có căn cứ pháp luật”. Trường hợp ngược lại sẽ được xem là không ngay tình. Trong trường hợp này, B không thể là người chiếm hữu tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình theo Điều 189 BLDS 2005; bởi lẽ, việc tài khoản của B nhận được 100.000.000 đồng không có nguồn gốc (không do bất kỳ việc làm nào của B để có thể nhận được số tiền này) thì B phải biết và có thể biết việc B đang chiếm hữu 100.000.000 đồng là không có căn cứ pháp luật. Vì vậy, B phải trả lợi tức thu được từ 100.000.000 đồng, từ thời điểm chiếm hữu không có căn cứ pháp luật, theo Khoản 1 Điều 601 Bộ luật Dân sự 2005.

Chúng tôi hi vọng những phần tư vấn trên đây sẽ giúp quý khách giải đáp được các thắc mắc của mình.Xin vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi để chúng tôi có thể cung cấp dịch vụ tư vấn pháp lý tốt nhất cho quý khách.

Agree Comment 0 Agrees almost 4 years ago

Please Login or Register to Submit Answer

Directory ads
Need to talk to a lawyer?

Book a phone consultation with a top-rated lawyer on Lawfarm.