This site is under development, some of the functionalities may not work properly.
Anonymous
in Investment Law
Asked May 10, 2017

Luật Đầu tư - Giải quyết tranh chấp trong hoạt động đầu tư

  • 1 Answer
  • 384 Views

Công ty tôi được thàng lập năm 2008, 100% vốn trong nước và chuyên đầu tư trong lĩnh vực điện tử. Tháng 3/2015, công ty tôi có giao kết một hợp đồng BCC với một nhà đầu tư trong nước khác cùng lĩnh vực này để hợp tác kinh doanh đầu tư trong lĩnh vực điện gia dụng. Hiện tại giữa chúng tôi đang xảy ra tranh chấp về một số vấn đề trong hợp đồng này và họ muốn khởi kiện ra Tòa án. Tuy nhiên, phía tôi lại muốn kiện ra Trọng tài thương mại để nhờ giải quyết. Xin hỏi Luật sư, công ty tôi làm vậy có được không?

Answer 1

Cơ quan giải quyết tranh chấp về đầu tư tại Việt Nam

Dựa theo thông tin quý khách cung cấp cho chúng tôi, quý công ty và công ty đối tác đều là những nhà đầu tư trong nước căn cứ theo Khoản 15 Điều 3 Luật Đầu tư 2014; đó là Nhà đầu tư trong nước là cá nhân có quốc tịch Việt Nam, tổ chức kinh tế không có nhà đầu tư nước ngoài là thành viên hoặc cổ đông.

Theo quy định tại Điều 14 Luật Đầu tư 2014, trước tiên tranh chấp liên quan đến hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam được giải quyết thông qua thương lượng, hòa giải. Trường hợp không thương lượng, hòa giải được thì tranh chấp giữa các nhà đầu tư trong nước liên quan đến hoạt động đầu tư kinh doanh trên lãnh thổ Việt Nam sẽ được giải quyết tại Trọng tài hoặc Tòa án.

Tuy nhiên, để có thể giải quyết tranh chấp bằng con đường Trọng tài thương mại, quý công ty cần thỏa mãn các điều kiện luật định. Cụ thể, Điều 5 Luật Trọng tài thương mại 2010 quy định, tranh chấp được giải quyết bằng Trọng tài “nếu các bên có thoả thuận trọng tài. Thỏa thuận trọng tài có thể được lập trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp”. Do đó, điều đầu tiên quý công ty cần làm là xem lại nội dung hợp đồng BCC giữa quý công ty và phía đối tác liệu có một điều khoản trọng tài hay giữa các bên có một thỏa thuận trọng tài độc lập hay không. 

Nếu có, với điều kiện thỏa thuận trọng tài của hai bên phải có hiệu lực, quý công ty hoàn toàn có thể khởi kiện công ty đối tác ra Trọng tài thương mại nhờ giải quyết và khởi kiện tại Tòa án của bên đối tác sẽ bị từ chối thụ lý [Điều 6 Luật trọng tài Thương mại 2010].

Ngược lại, trong trường hợp, giữa quý công ty và đối tác không lập được thỏa thuận trọng tài sau khi xảy ra tranh chấp thì quý công ty không thể khởi kiện tranh chấp ra Trọng tài mà bắt buộc tranh chấp này phải được giải quyết tại Tòa án.

Điều kiện thỏa thuận trọng tài có hiệu lực

Để thỏa thuận trọng tài có hiệu lực, cần thỏa mãn các điều kiện sau:

  • Điều kiện về hình thức

Điều 16 Luật trọng tài thương mại 2010 quy định về hình thức thoả thuận trọng tài như sau:

1. Thỏa thuận trọng tài có thể được xác lập dưới hình thức điều khoản trọng tài trong hợp đồng hoặc dưới hình thức thỏa thuận riêng.

2. Thoả thuận trọng tài phải được xác lập dưới dạng văn bản. Các hình thức thỏa thuận sau đây cũng được coi là xác lập dưới dạng văn bản:

a) Thoả thuận được xác lập qua trao đổi giữa các bên bằng telegram, fax, telex, thư điện tử và các hình thức khác theo quy định của pháp luật;

b) Thỏa thuận được xác lập thông qua trao đổi thông tin bằng văn bản giữa các bên;

c) Thỏa thuận được luật sư, công chứng viên hoặc tổ chức có thẩm quyền ghi chép lại bằng văn bản theo yêu cầu của các bên;

d) Trong giao dịch các bên có dẫn chiếu đến một văn bản có thể hiện thỏa thuận trọng tài như hợp đồng, chứng từ, điều lệ công ty và những tài liệu tương tự khác;

đ) Qua trao đổi về đơn kiện và bản tự bảo vệ mà trong đó thể hiện sự tồn tại của thoả thuận do một bên đưa ra và bên kia không phủ nhận.

  • Điều kiện về chủ thể

Do đây là thỏa thuận trọng tài giữa hai công ty, vì thế, chủ thể thực hiện hành vi thỏa thuận, cụ thể là người đại diện của hai công ty phải có năng lực hành vi dân sự. Cụ thể, Khoản 3 Điều 18 Luật Trọng tài thương mại 2010 quy định “người xác lập thoả thuận trọng tài không có năng lực hành vi dân sự theo quy định của Bộ luật dân sự.”

  • Điều kiện về nội dung

Thỏa thuận trọng tài phải không thuộc các trường hợp vô hiệu được quy định Điều 18 Luật Trọng tài thương mại 2010 quy định. Cụ thể:

1. Tranh chấp phát sinh trong các lĩnh vực không thuộc thẩm quyền của Trọng tài quy định tại Điều 2 của Luật này.

2. Người xác lập thoả thuận trọng tài không có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.

3. Người xác lập thoả thuận trọng tài không có năng lực hành vi dân sự theo quy định của Bộ luật dân sự.

4. Hình thức của thoả thuận trọng tài không phù hợp với quy định tại Điều 16 của Luật này.

5. Một trong các bên bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép trong quá trình xác lập thoả thuận trọng tài và có yêu cầu tuyên bố thoả thuận trọng tài đó là vô hiệu.

6. Thỏa thuận trọng tài vi phạm điều cấm của pháp luật.

Chúng tôi hi vọng những phần tư vấn trên đây sẽ giúp quý khách giải đáp được các thắc mắc của mình. Xin vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi để chúng tôi có thể cung cấp dịch vụ tư vấn pháp lý tốt nhất cho quý khách.

Agree Comment 0 Agrees almost 4 years ago

Please Login or Register to Submit Answer

Directory ads
Need to talk to a lawyer?

Book a phone consultation with a top-rated lawyer on Lawfarm.