This site is under development, some of the functionalities may not work properly.
Anonymous
in Investment Law
Asked May 10, 2017

Luật Đầu tư - Góp vốn vào tổ chức kinh tế

  • 1 Answer
  • 143 Views

Bạn của tôi (anh A) là người có quốc tịch Singapore. Sắp tới, bạn tôi sang Việt Nam sinh sống và có ý định mua lại 75% vốn góp của các thành viên trong một công ty TNHH tại Việt Nam chuyên về sản xuất vật liệu xây dựng. Xin hỏi theo pháp luật hiện hành, bạn tôi có thể tiến hành việc này không?

Answer 1

Nhà đầu tư nước ngoài

Vấn đề pháp lý đầu tiên cần xác định, bạn quý khách có là nhà đầu tư nước ngoài theo quy định của pháp luật đầu tư hay không. Để trả lời câu hỏi này, Khoản 14 Điều 3 Luật Đầu tư 2014 quy định “Nhà đầu tư nước ngoài là cá nhân có quốc tịch nước ngoài, tổ chức thành lập theo pháp luật nước ngoài thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam.

Dựa trên thông tin quý khách cung cấp cho chúng tôi, vì bạn quý khách là cá nhân có quốc tịch nước ngoài (Singapore) mong muốn thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam (có ý định mua lại 75% vốn góp của các thành viên trong một công ty TNHH tại Việt Nam chuyên về sản xuất vật liệu xây dựng) nên trong trường hợp này, bạn quý khách được xem là một nhà đầu tư nước ngoài.

Nhà đầu tư nước ngoài mua lại phần vốn góp của các thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn tại Việt Nam

Theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, người bạn quý khách có thể thực hiện việc mua lại phần vốn góp của các thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn tại Việt Nam để trở thành thành viên của công ty trách nhiệm hữu hạn này theo như quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 25 Luật Đầu tư 2014. Cụ thể:

Nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế theo các hình thức sau đây:

a) Mua cổ phần của công ty cổ phần từ công ty hoặc cổ đông;

b) Mua phần vốn góp của các thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn để trở thành thành viên của công ty trách nhiệm hữu hạn;

c) Mua phần vốn góp của thành viên góp vốn trong công ty hợp danh để trở thành thành viên góp vốn của công ty hợp danh;

d) Mua phần vốn góp của thành viên tổ chức kinh tế khác không thuộc trường hợp quy định tại các điểm a, b và c khoản này.”

Tuy nhiên, bạn của quý khách cần lưu ý rằng, việc góp vốn, mua phần vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài theo các hình thức trên phải đáp ứng điều kiện quy định tại Điểm a, b Khoản 1 và Khoản 3 Điều 22 Luật Đầu tư 2014. Đó là:

[Điểm a, b Khoản 1 Điều 22 Luật Đầu tư 2014]

Nhà đầu tư được thành lập tổ chức kinh tế theo quy định của pháp luật. Trước khi thành lập tổ chức kinh tế, nhà đầu tư nước ngoài phải có dự án đầu tư, thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư theo quy định tại Điều 37 của Luật này và phải đáp ứng các điều kiện sau đây:

a) Tỷ lệ sở hữu vốn điều lệ quy định tại khoản 3 Điều này;

b) Hình thức đầu tư, phạm vi hoạt động, đối tác Việt Nam tham gia thực hiện hoạt động đầu tư và điều kiện khác theo quy định của điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

...

[Khoản 3 Điều 22 Luật Đầu tư 2014]

Nhà đầu tư nước ngoài được sở hữu vốn điều lệ không hạn chế trong tổ chức kinh tế, trừ các trường hợp sau đây:

a) Tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài tại công ty niêm yết, công ty đại chúng, tổ chức kinh doanh chứng khoán và các quỹ đầu tư chứng khoán theo quy định của pháp luật về chứng khoán;

b) Tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa hoặc chuyển đổi sở hữu theo hình thức khác thực hiện theo quy định của pháp luật về cổ phần hóa và chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước;

c) Tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài không thuộc quy định tại điểm a và điểm b khoản này thực hiện theo quy định khác của pháp luật có liên quan và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên”.

Tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài đối với doanh nghiệp trong lĩnh vực xây dựng

Hiện nay, theo Mục 3 Phần II của Biểu cam kết dịch vụ của Việt Nam khi gia nhập WTO (Dịch vụ xây dựng và các dịch vụ kỹ thuật liên quan) thì nhà đầu tư nước ngoài không bị hạn chế việc tỷ lệ sổ hữu phần vốn góp trong doanh nghiệp tại Việt Nam đối với lĩnh vực dịch vụ xây dựng. Do đó, việc bạn của quý khách mua lại 75% phần vốn góp trong công ty trách nhiệm hữu hạn tại Việt Nam là hoàn toàn hợp pháp và không bị hạn chế.

Tuy nhiên, bạn của quý khách cần lưu ý rằng, việc mua phần vốn góp này thực tế đã dẫn đến việc bạn quý khách nắm giữ từ 51% vốn điều lệ trở lên của một tổ chức kinh tế. Do đó, bạn quý khách còn phải thực hiện thủ tục đăng ký mua phần vốn góp vào tổ chức kinh tế theo như quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 26 Luật Đầu tư 2014. Cụ thể:

Nhà đầu tư thực hiện thủ tục đăng ký góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào tổ chức kinh tế trong các trường hợp sau đây:

a) Nhà đầu tư nước ngoài góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào tổ chức kinh tế hoạt động trong ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện áp dụng đối với nhà đầu tư nước ngoài;

b) Việc góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp dẫn đến nhà đầu tư nước ngoài, tổ chức kinh tế quy định tại khoản 1 Điều 23 của Luật này nắm giữ từ 51% vốn điều lệ trở lên của tổ chức kinh tế.

Chúng tôi hi vọng những phần tư vấn trên đây sẽ giúp quý khách giải đáp được các thắc mắc của mình.Xin vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi để chúng tôi có thể cung cấp dịch vụ tư vấn pháp lý tốt nhất cho quý khách.

Agree Comment 0 Agrees almost 4 years ago

Please Login or Register to Submit Answer

Directory ads
Need to talk to a lawyer?

Book a phone consultation with a top-rated lawyer on Lawfarm.