This site is under development, some of the functionalities may not work properly.
Anonymous
in Media Law
Asked May 17, 2017

Luật Điện ảnh - Đầu tư vào lĩnh vực phim ảnh

  • 1 Answer
  • 161 Views

Tôi là nhà đầu tư có quốc tịch Hàn Quốc. Sau thời gian tìm hiểu thị trường phim ảnh tại Việt Nam, vài tháng tới đây, tôi có ý định hợp tác đầu tư vào hoạt động phát hành phim. Xin hỏi Luật sư, theo pháp luật hiện hành, tôi có thể tiến hành việc này không?

Answer 1

Vấn đề pháp lý đầu tiên cần xác định đó là quý khách có là nhà đầu tư nước ngoài theo quy định của pháp luật đầu tư hay không. Để trả lời câu hỏi này, Khoản 14 Điều 3 Luật Đầu tư 2014 quy định “Nhà đầu tư nước ngoài là cá nhân có quốc tịch nước ngoài, tổ chức thành lập theo pháp luật nước ngoài thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam. Dựa trên thông tin quý khách cung cấp cho chúng tôi, vì quý khách là cá nhân có quốc tịch nước ngoài (Hàn Quốc) mong muốn thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam (có ý định hợp tác đầu tư tại Việt Nam về hoạt động phát hành phim) nên trong trường hợp này, quý khách được xem là một nhà đầu tư nước ngoài.

Theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, quý khách có thể tiến hành đầu tư vào hoạt động điện ảnh, cụ thể là phát hành phim. Bởi lẽ, hiện nay, theo Mục 2 Phần II của Biểu cam kết dịch vụ của Việt Nam khi gia nhập WTO (Dịch vụ nghe nhìn – Dịch vụ phát hành phim) và Khoản 2 Điều 13 Văn bản hợp nhất 26/VBHN-VPQH năm 2013 hợp nhất Luật điện ảnh do Văn phòng Quốc hội ban hành (“Văn bản hợp nhất 26/VBHN-VPQH năm 2013”) thì nhà đầu tư nước ngoài được cung cấp dịch vụ thông qua:

  • thành lập liên doanh với đối tác Việt Nam đã được phép cung cấp các dịch vụ này tại Việt Nam, hoặc
  • hợp đồng hợp tác kinh doanh.

Theo quy định tại Khoản 2 Điều 30 và Khoản 1 Điều 37 Văn bản hợp nhất 26/VBHN-VPQH năm 2013, doanh nghiệp phát hành phim còn phải đăng ký kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu phim, phải có rạp chiếu phim để tham gia phổ biến phim và có giấy phép phổ biến phim của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về điện ảnh.

Ngoài ra, quý khách cũng cần lưu ý về các hành vi bị xem là vi phạm trong hoạt động phát hành phim tại để tránh sai phạm trong quá trình hoạt động. Cụ thể, Điều 50 Văn bản hợp nhất 26/VBHN-VPQH năm 2013 quy định:

Điều 50. Hành vi vi phạm trong phát hành phim

1. Phát hành phim khi chưa có giấy phép phổ biến của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về điện ảnh hoặc chưa có quyết định phát sóng của người đứng đầu đài truyền hình, đài phát thanh - truyền hình.

2. Phát hành phim sau khi có quyết định cấm phổ biến, tạm đình chỉ, đình chỉ, thu hồi, tịch thu, tiêu hủy.

3. Phát hành băng phim, đĩa phim không dán nhãn kiểm soát của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.

4. In sang, nhân bản phim để phát hành không có hợp đồng hoặc không theo đúng hợp đồng với chủ sở hữu phim.

5. Xuất khẩu phim khi chưa có giấy phép phổ biến của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về điện ảnh hoặc chưa có quyết định phát sóng của người đứng đầu đài truyền hình, đài phát thanh - truyền hình.

6. Xuất khẩu băng phim, đĩa phim không dán nhãn kiểm soát của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.

7. Nhập khẩu phim không đúng quy định tại khoản 2 Điều 30 của Luật này.

8. Cho thuê, bán phim lưu hành nội bộ.

9. Quản lý và sử dụng phim nhập khẩu phục vụ công tác nghiên cứu khoa học không đúng mục đích, cho người tham dự xem phim không đúng đối tượng.

Chúng tôi hi vọng những phần tư vấn trên đây sẽ giúp quý khách giải đáp được các thắc mắc của mình.Xin vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi để chúng tôi có thể cung cấp dịch vụ tư vấn pháp lý tốt nhất cho quý khách.

Ghi chú:

Văn bản hợp nhất 26/VBHN-VPQH năm 2013 hợp nhất Luật điện ảnh do Văn phòng Quốc hội ban hành, hợp nhất:

  • Luật Điện ảnh 2006; và
  • Luật Điện ảnh sửa đổi 2009
Agree Comment 0 Agrees almost 4 years ago

Please Login or Register to Submit Answer

Directory ads
Need to talk to a lawyer?

Book a phone consultation with a top-rated lawyer on Lawfarm.