Anonymous
in Corporate Law
Asked May 05, 2017

Luật Doanh nghiệp - Rút cổ phần phổ thông

  • 1 Answer
  • 263 Views

Năm 2014, tôi cùng 4 người bạn quyết định góp vốn thành lập một công ty cổ phần sản xuất và kinh doanh sữa. Tôi nắm giữ 30% cổ phần phổ thông của công ty. Hiện nay, vì một số lý do cá nhân, tôi muốn rút khỏi công ty. Tôi xin hỏi luật sư tôi có thể rút số vốn đã góp ra khỏi công ty được không?

Answer 1

Dựa vào những thông tin mà quý khách cung cấp, quý khách (i) là cổ đông sáng lập của công ty cổ phần trên, (ii) loại cổ phần mà quý khách đang nắm giữ là cổ phần phổ thông, (iii) quý khách đang có nhu cầu rút vốn ra khỏi công ty.

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 115 Luật Doanh nghiệp 2014, quý khách không được rút vốn góp bằng cổ phần phổ thông ra khỏi công ty cổ phần dưới mọi hình thức, trừ trường hợp được công ty hoặc người khác mua lại số cổ phần này. Điều này có nghĩa là quý khách có thể rút vốn ra khỏi công ty cổ phần bằng hai (02) cách: (a) yêu cầu công ty mua lại số cổ phần trên, hoặc (b) chuyển nhượng số cổ phần trên cho người khác.

Yêu cầu công ty mua lại số cổ phần phổ thông

Theo quy định tại Điều 129 Luật Doanh nghiệp 2014, quý khách có quyền yêu cầu công ty mua lại cổ phần của mình trong trường hợp quý khách biểu quyết phản đối nghị quyết về việc (i) tổ chức lại công ty [tổ chức lại công ty là việc chia, tách, hợp nhất, sáp nhập hoặc chuyển đổi loại hình của công ty (Khoản 25 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2014)]; hoặc (ii) thay đổi quyền, nghĩa vụ của cổ đông quy định tại Điều lệ công ty.

Tuy nhiên, quý khách cần lưu ý, đó là “yêu cầu công ty mua lại cổ phần” phải:

• bằng văn bản, trong đó nêu rõ tên, địa chỉ của quý khách, số lượng cổ phần từng loại, giá dự định bán, lý do yêu cầu công ty mua lại; và

• được gửi đến công ty trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Đại hội đồng cổ đông thông qua nghị quyết về các vấn đề trên.

Trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu, công ty phải mua lại cổ phần theo yêu cầu của quý khách với giá thị trường hoặc giá được tính theo nguyên tắc quy định tại Điều lệ công ty. Trường hợp không thỏa thuận được về giá thì quý khách và công ty có thể yêu cầu một tổ chức thẩm định giá chuyên nghiệp định giá. Công ty phải giới thiệu ít nhất 03 tổ chức thẩm định giá chuyên nghiệp để quý khách lựa chọn và lựa chọn của quý khách là quyết định cuối cùng.

Chuyển nhượng số cổ phần phổ thông cho người khác

Theo quy định tại Điều 126 Luật Doanh nghiệp 2014, cổ phần được tự do chuyển nhượng, trừ trường hợp quy định tại (i) Khoản 3 Điều 119 Luật Doanh nghiệp 2014, và (ii) Điều lệ công ty có quy định hạn chế chuyển nhượng cổ phần.

Trường hợp 1: Hạn chế chuyển nhượng cổ phần theo quy định tại Khoản 3 Điều 119 Luật Doanh nghiệp 2014

Khoản 3 Điều 119 Luật Doanh nghiệp 2014 quy định quý khách có thể chuyển nhượng cổ phần phổ thông của mình sau 3 năm kể từ ngày quý công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Cụ thể:

“Trong thời hạn 03 năm, kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, cổ đông sáng lập có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho cổ đông sáng lập khác và chỉ được chuyển nhượng cổ phần phổ thông của mình cho người không phải là cổ đông sáng lập nếu được sự chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông. Trường hợp này, cổ đông dự định chuyển nhượng cổ phần không có quyền biểu quyết về việc chuyển nhượng các cổ phần đó.”

Trong trường hợp này, chúng tôi không rõ quý công ty đã được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp từ ngày nào, nhưng trong thời hạn 3 năm kể từ ngày này, việc chuyển nhượng cổ phần phổ thông của quý khách cho người không phải là cổ đông sáng lập phải được Đại hội đồng cổ đông chấp thuận. Sau thời hạn này, quý khách không còn bị ràng buộc bởi quy định này và có thể tự do chuyển nhượng số cổ phần mà quý khách sở hữu.

Trường hợp 2: Hạn chế chuyển nhượng cổ phần theo quy định tại Điều lệ công ty

Trường hợp Điều lệ công ty có quy định hạn chế về chuyển nhượng cổ phần thì các quy định này chỉ có hiệu lực khi được nêu rõ trong cổ phiếu của cổ phần tương ứng. Việc chuyển nhượng được thực hiện bằng (a) hợp đồng theo cách thông thường, hoặc (b) thông qua giao dịch trên thị trường chứng khoán. Cụ thể:

• Trường hợp chuyển nhượng bằng hợp đồng thì giấy tờ chuyển nhượng phải được bên chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng hoặc đại diện ủy quyền của họ ký.

• Trường hợp chuyển nhượng thông qua giao dịch trên thị trường chứng khoán, trình tự, thủ tục và việc ghi nhận sở hữu thực hiện theo quy định của pháp luật về chứng khoán.

Người nhận cổ phần trong các trường hợp nêu trên chỉ trở thành cổ đông công ty từ thời điểm các thông tin của họ theo quy định tại Khoản 2 Điều 121 Luật Doanh nghiệp 2014 [các nội dung chủ yếu của Sổ đăng ký cổ đông] được ghi đầy đủ vào sổ đăng ký cổ đông.

Chúng tôi hi vọng những phần tư vấn trên đây sẽ giúp quý khách giải đáp được các thắc mắc của mình. Xin vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi để chúng tôi có thể cung cấp dịch vụ tư vấn pháp lý tốt nhất cho quý khách.

Agree Comment 0 Agrees over 3 years ago

Please Login or Register to Submit Answer

Directory ads
Need to talk to a lawyer?

Book a phone consultation with a top-rated lawyer on Lawfarm.