This site is under development, some of the functionalities may not work properly.
Anonymous
in Family Law
Asked May 05, 2017

Luật Hôn nhân và gia đình - Tài sản chung – Tài sản riêng

  • 1 Answer
  • 207 Views

Trước khi kết hôn tôi có dành dụm được một số tiền vừa đủ để xây nhà. Sau khi kết hôn, tôi hưởng thừa kế một mảnh đất ở Thủ Đức từ di chúc của ông nội và xây nhà ở đó; đồng thời, vợ tôi đứng tên vay ngân hàng khoảng 500 triệu để mua đồ dùng nội thất. Xin hỏi Luật sư đất và nhà là tài sản riêng của tôi hay của cả hai vợ chồng, và khoản nợ ngân hàng là khoản nợ chung hay khoản nợ của riêng vợ tôi? Vợ chồng tôi không có thỏa thuận gì trước đó.

Answer 1

Trong trường hợp này, do vợ chồng quý khách không có thỏa thuận về chế độ tài sản nên sẽ áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định được thực hiện theo quy định tại các điều từ Điều 33 đến Điều 46 và từ Điều 59 đến Điều 64 của Luật Hôn nhân và gia đình 2014. Cụ thể:

Đối với khoản tiền quý khách dành dụm được trước khi kết hôn, căn cứ theo Khoản 1 Điều 43 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, đây là tài sản riêng do quý khách có trước khi kết hôn. Như vậy, khoản tiền này là tài sản riêng của quý khách.

Đối với quyền sử dụng mảnh đất quý khách được nhận thừa kế trong thời kỳ hôn nhân, ở đây chúng tôi cần làm rõ người được hưởng phần di sản thừa kế là quyền sử dụng mảnh đất do di chúc của ông quý khách để lại là ai. Có hai trường hợp xảy ra:

• Nếu di chúc chỉ định rõ ông của quý khách để lại thừa kế quyền sử dụng mảnh đất cho quý khách thì căn cứ theo Khoản 1 Điều 43 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, đây là tài sản do quý khách được thừa kế riêng trong thời kỳ hôn nhân. Như vậy, quyền sử dụng mảnh đất này là tài sản riêng của quý khách.

• Ngược lại, nếu di chúc thể hiện ông của quý khách để lại thừa kế quyền sử dụng mảnh đất cho vợ chồng quý khách thì căn cứ theo Khoản 1 Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, “quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng”. Như vậy, quyền sử dụng mảnh đất này là tài sản chung của vợ chồng quý khách.

Đối với khoản nợ ngân hàng do vợ quý khách đứng tên, đây được xem là nghĩa vụ do vợ của quý khách thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình. Khoản 20 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 có quy định “nhu cầu thiết yếu là nhu cầu sinh hoạt thông thường về ăn, mặc, ở, học tập, khám bệnh, chữa bệnh và nhu cầu sinh hoạt thông thường khác không thể thiếu cho cuộc sống của mỗi người, mỗi gia đình.” Vì khoản nợ này nhằm mua sắm đồ dùng nội thất phục vụ nhu cầu ở của gia đình nên căn cứ theo Khoản 2 Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, khoản nợ ngân hàng do vợ quý khách đứng tên là nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng, tức là khoản nợ chung của quý khách và vợ.

Chúng tôi hi vọng những phần tư vấn trên đây sẽ giúp quý khách giải đáp được các thắc mắc của mình. Xin vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi để chúng tôi có thể cung cấp dịch vụ tư vấn pháp lý tốt nhất cho quý khách.

Agree Comment 0 Agrees almost 4 years ago

Please Login or Register to Submit Answer

Directory ads
Need to talk to a lawyer?

Book a phone consultation with a top-rated lawyer on Lawfarm.