Anonymous
in Family Law
Asked May 05, 2017

Luật Hôn nhân và gia đình – Lợi tức phát sinh trong thời kỳ hôn nhân

  • 1 Answer
  • 224 Views

Vợ chồng tôi kết hôn hợp pháp từ năm 2009. Sau đó, ba mẹ tôi mất để lại di sản thừa kế cho riêng mình tôi là mảnh đất 400m2 tại Quận 9, TP.HCM. Di chúc này là hoàn toàn hợp pháp. Từ đầu năm 2016, vợ chồng tôi tiến hành cho thuê đối với mảnh đất này. Thu nhập hàng tháng từ việc cho thuê là 50 triệu đồng. Xin hỏi khoản tiền này được xem là tài sản chung của vợ chồng tôi hay chỉ là tài sản riêng mình tôi?

Answer 1

Tài sản riêng

Vấn đề pháp lý đầu tiên cần làm rõ là mảnh đất 400m2 tại Quận 9, TP.HCM là tài sản chung hay tài sản riêng? Theo quy định tại Điều 43 Luật Hôn nhân và gia đình 2014,“tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng”. Theo như những thông tin mà quý khách cung cấp, nguồn gốc của mảnh đất quý khách đang sở hữu chính là di sản thừa kế của ba mẹ quý khách để lại cho riêng quý khách. Như vậy, mảnh đất được xác định là tài sản riêng của quý khách.

Hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng

Khoản 2 Điều 175 Bộ luật Dân sự 2005 quy định “lợi tức là các khoản lợi thu được từ việc khai thác tài sản”. Do đó, khoản tiền 50 triệu đồng thu được từ việc cho thuê mảnh đất là khoản lợi tức phát sinh từ tài sản này.

Theo như quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, đồng thời dựa trên thông tin quý khách cung cấp, chúng tôi chưa thể khẳng định khoản tiền 50 triệu phát sinh từ việc quý khách cho thuê mảnh đất thuộc quyền sở hữu riêng của mình được xem là tài sản chung của vợ chồng quý khách hay chỉ là tài sản riêng của quý khách. Bởi lẽ, Khoản 1 Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định:

“1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng”.

Như vậy, lợi tức thu được từ mảnh đất có nguồn gốc là di sản thừa kế riêng của quý khách chỉ được xem là tài sản chung của vợ chồng nếu như trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng quý khách không có tiến hành việc thỏa thuận chia tài sản chung.

Chúng tôi hi vọng những phần tư vấn trên đây sẽ giúp quý khách giải đáp được các thắc mắc của mình. Xin vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi để chúng tôi có thể cung cấp dịch vụ tư vấn pháp lý tốt nhất cho quý khách.

Agree Comment 0 Agrees over 3 years ago

Please Login or Register to Submit Answer

Directory ads
Need to talk to a lawyer?

Book a phone consultation with a top-rated lawyer on Lawfarm.