This site is under development, some of the functionalities may not work properly.
Anonymous
in Insurance Law
Asked May 08, 2017

Luật Kinh doanh bảo hiểm - Giá trị của tài sản được bảo hiểm

  • 1 Answer
  • 226 Views

Ngày 5/5/2016, công ty tôi ký kết hợp động bảo hiểm tài sản với công ty bảo hiểm A. Theo hợp đồng, sự kiện bảo hiểm là cháy, nổ đối với các lô hàng vải tại nhà kho, trị giá tại thời điểm ký hợp đồng là 1.2 tỷ đồng, thời hạn bảo hiểm là 1 năm kể từ ngày 1/6/2016. Đến ngày 15/10/2016, do nhân viên của công ty tôi vô ý sạc điện thoại khi kiểm kho nên kho hàng bốc cháy, toàn bộ lô hàng vải bị tiêu hủy. Khi được giám định thì kết luận giá trị lô hàng vải của công ty tôi theo giá thị trường tại thời điểm thiệt hại [15/10/2016] là 1 tỷ đồng chứ không phải 1.2 tỷ đồng nên công ty A không chấp nhận bồi thường vì cho rằng công ty tôi đã vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin, có ý đồ trục lợi. Tôi xin hỏi Luật sư việc làm của công ty A có đúng không?

Answer 1

Theo quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, giá thị trường của tài sản được các bên sử dụng làm căn cứ giao kết hợp đồng bảo hiểm là một nội dung bắt buộc phải có trong hợp đồng bảo hiểm căn cứ theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 13 Văn bản hợp nhất số 12/VBHN-VPQH năm 2013 hợp nhất Luật kinh doanh bảo hiểm do Văn phòng Quốc hội ban hành (“Văn bản hợp nhất 12/VBHN-VPQH năm 2013”). Dựa vào thông tin mà quý công ty cung cấp, công ty A từ chối bồi thường vì cho rằng quý công ty đã vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin và có ý đồ trục lợi bởi giá thị trường của lô hàng tại thời điểm thiệt hại thấp hơn giá thị trường tại thời điểm giao kết hợp đồng là không có cơ sở. Bởi lẽ, các bên không thể dự liệu cũng như mong muốn có thiệt hại xảy ra đối với lô hàng được bảo hiểm; đồng thời, việc trữ lô hàng trong nhà kho có thể làm giảm sút giá trị của hàng hóa. Thực tế cho thấy, có không ít vụ việc giá thị trường của tài sản tại thời điểm giao kết hợp đồng cao hơn giá thị trường tại thời điểm xảy ra thiệt hại.

Công ty A chỉ có thể từ chối bồi thường cho quý công ty “trong trường hợp không thuộc phạm vi trách nhiệm bảo hiểm hoặc trường hợp loại trừ trách nhiệm bảo hiểm theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm” căn cứ theo quy định tại Điểm d Khoản 1 Điều 17 Văn bản hợp nhất số 12/VBHN-VPQH năm 2013.

Công ty A có nghĩa vụ phải chứng minh lỗi cố ý của quý khách về cung cấp sai thông tin liên quan đến giá trị của hàng hóa, nếu không chứng minh được thì công ty A vẫn phải bồi thường theo yêu cầu của quý công ty theo thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm hoặc trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ yêu cầu bồi thường của quý công ty, căn cứ theo các quy định tại Điểm c Khoản 2 Điều 17 và Điều 29 Văn bản hợp nhất số 12/VBHN-VPQH năm 2013, cụ thể:

“Trả tiền bảo hiểm kịp thời cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm.”

 [Điểm c Khoản 2 Điều 17 Văn bản hợp nhất số 12/VBHN-VPQH năm 2013]

“Khi xảy ra sự kiện bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm hoặc bồi thường theo thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm; trong trường hợp không có thỏa thuận về thời hạn thì doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm hoặc bồi thường trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ hợp lệ về yêu cầu trả tiền bảo hiểm hoặc bồi thường.”

[Điều 29 Văn bản hợp nhất số 12/VBHN-VPQH năm 2013]

Trong trường hợp công ty A vẫn không bồi thường cho quý công ty, quý công ty có thể khởi kiện yêu cầu Tòa án có thẩm quyền buộc công ty A thực hiện nghĩa vụ này và thời hiệu khởi kiện về hợp đồng bảo hiểm là 03 năm, kể từ thời điểm phát sinh tranh chấp [Điều 30 Văn bản hợp nhất số 12/VBHN-VPQH năm 2013].

Chúng tôi hi vọng những phần tư vấn trên đây sẽ giúp quý khách giải đáp được các thắc mắc của mình. Xin vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi để chúng tôi có thể cung cấp dịch vụ tư vấn pháp lý tốt nhất cho quý khách.

Ghi chú

Văn bản hợp nhất Luật Kinh doanh bảo hiểm

Văn bản hợp nhất số 12/VBHN-VPQH năm 2013 hợp nhất Luật kinh doanh bảo hiểm do Văn phòng Quốc hội ban hành, hợp nhất:

  • Luật kinh doanh bảo hiểm số 24/2000/QH10 ngày 09 tháng 12 năm 2000 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 4 năm 2001; và
  • Luật số 61/2010/QH12 ngày 24 tháng 11 năm 2010 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật kinh doanh bảo hiểm, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2011.
Agree Comment 0 Agrees almost 4 years ago

Please Login or Register to Submit Answer

Directory ads
Need to talk to a lawyer?

Book a phone consultation with a top-rated lawyer on Lawfarm.