This site is under development, some of the functionalities may not work properly.
Anonymous
in Labour Law
Asked May 15, 2017

Luật Lao động – Chậm trả lương cho người lao động

  • 1 Answer
  • 727 Views

Tôi hiện là Giám đốc của một công ty may mặc, có trụ sở ở TPHCM. Quý vừa qua doanh thu của công ty tôi thua lỗ, nợ đối tác ngày càng cao nên sắp tới công ty tôi dự định sẽ thỏa thuận nợ lương, không cấp lương cho người lao động để giải quyết các khoản nợ đến hạn cho đối tác của công ty. Tôi xin hỏi Luật sư trong trường hợp này công ty tôi có thể làm như vậy không? Nếu không được phép mà vẫn làm thì sẽ bị xử phạt như thế nào?

Answer 1

Theo quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, trong trường hợp này, quý công ty có thể trả chậm lương cho người lao động nhưng không được trả chậm quá một (01) tháng. Cụ thể, căn cứ tại Điều 96 Bộ luật Lao động 2012 và Khoản 2 Điều 24 Nghị định số 05/2015/NĐ-CP của Chính phủ về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số nội dung của Bộ luật Lao động (“Nghị định số 05/2015/NĐ-CP”):

[Điều 96 Bộ luật Lao động 2012]

Điều 96. Nguyên tắc trả lương

Người lao động được trả lương trực tiếp, đầy đủ và đúng thời hạn.

Trường hợp đặc biệt không thể trả lương đúng thời hạn thì không được chậm quá 01 tháng và người sử dụng lao động phải trả thêm cho người lao động một khoản tiền ít nhất bằng lãi suất huy động tiền gửi do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm trả lương.”

[Khoản 2 Điều 24 Nghị định số 05/2015/NĐ-CP]

Điều 24. Nguyên tắc trả lương

2. Trường hợp đặc biệt do thiên tai, hỏa hoạn hoặc lý do bất khả kháng khác mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng không thể trả lương đúng thời hạn theo thỏa thuận trong hợp đồng lao động thì không được trả chậm quá 01 tháng. Việc người sử dụng lao động phải trả thêm cho người lao động do trả lương chậm được quy định như sau:

a) Nếu thời gian trả lương chậm dưới 15 ngày thì không phải trả thêm;

b) Nếu thời gian trả lương chậm từ 15 ngày trở lên thì phải trả thêm một khoản tiền ít nhất bằng số tiền trả chậm nhân với lãi suất trần huy động tiền gửi có kỳ hạn 01 tháng do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm trả lương. Khi Ngân hàng Nhà nước Việt Nam không quy định trần lãi suất thì được tính theo lãi suất huy động tiền gửi có kỳ hạn 01 tháng của ngân hàng thương mại, nơi doanh nghiệp, cơ quan mở tài khoản giao dịch thông báo tại thời điểm trả lương.”

Theo đó, với những quy định trên, nếu vì lý do bất khả kháng (giải quyết nợ đến hạn với đối tác) và quý công ty đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn không thể trả lương đúng hạn cho người lao động thì quý công ty (i) có thể chậm trả lương cho người lao động trong thời hạn một (01) tháng và (ii) phải trả thêm một khoản tiền nếu thời gian trả lương chậm từ 15 ngày trở lên; ngược lại, nếu thời gian trả lương chậm dưới 15 ngày thì quý công ty không phải trả thêm khoản tiền này.

Ngoài ra, nếu việc chậm trả lương cho người lao động của quý công ty mà không có lý do chính đáng hoặc quý công ty vẫn không trả lương cho người lao động quá thời hạn được chậm trả lương cho phép thì quý công ty có thể bị phạt tiền theo các mức sau, căn cứ theo quy định tại Khoản 3 Điều 13 Văn bản hợp nhất số 4756/VBHN-BLĐTBXH năm 2015 hợp nhất Nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng (“Văn bản hợp nhất số 4756/VBHN-BLĐTBXH năm 2015”):

  • Từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng với vi phạm từ 01 người đến 10 người lao động;
  • Từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng với vi phạm từ 11 người đến 50 người lao động;
  • Từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng với vi phạm từ 51 người đến 100 người lao động;
  • Từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng với vi phạm từ 101 người đến 300 người lao động;
  • Từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng với vi phạm từ 301 người lao động trở lên.

Đồng thời, quý công ty có thể bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả buộc trả đủ tiền lương cộng với khoản tiền lãi của số tiền lương chậm trả cho người lao động tính theo mức lãi suất tiền gửi không kỳ hạn cao nhất của các ngân hàng thương mại nhà nước công bố tại thời điểm xử phạt, căn cứ theo quy định tại Điểm a Khoản 7 Điều 13 Văn bản hợp nhất số 4756/VBHN-BLĐTBXH năm 2015.

Chúng tôi hi vọng những phần tư vấn trên đây sẽ giúp quý khách giải đáp được các thắc mắc của mình. Xin vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi để chúng tôi có thể cung cấp dịch vụ tư vấn pháp lý tốt nhất cho quý khách.

Ghi chú:

Văn bản hợp nhất số 4756/VBHN-BLĐTBXH năm 2015 hợp nhất Nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, hợp nhất:

  • Nghị định số 95/2013/NĐ-CP ngày 22 tháng 8 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, có hiệu lực kể từ ngày 10 tháng 10 năm 2013;
  • Nghị định số 88/2015/NĐ-CP ngày 07 tháng 10 năm 2015 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 95/2013/NĐ-CP ngày 22 tháng 8 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, có hiệu lực kể từ ngày 25 tháng 11 năm 2015.
Agree Comment 0 Agrees almost 4 years ago

Please Login or Register to Submit Answer

Directory ads
Need to talk to a lawyer?

Book a phone consultation with a top-rated lawyer on Lawfarm.