Anonymous
in Labour Law
Asked May 05, 2017

Luật lao động – Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với người lao động nữ mang thai

  • 1 Answer
  • 147 Views

Tôi công tác tại Phòng quản lý dự án của một công ty xây dựng. Cách đây một tuần, tôi nhận được quyết định cho thôi việc với các lý do sau: (i) nhằm cân đối nguồn kinh phí hoạt động của công ty và sắp xếp lại cơ cấu công ty theo hướng tinh gọn, cắt giảm những vị trí công việc không cần thiết phải bố trí nhiều lao động; và (ii) vì tôi hiện đang mang thai tháng thứ 6 nên không còn phù hợp với tính chất công việc nữa. Xin hỏi là quyết định cho thôi việc của công ty có hợp pháp hay không?

Answer 1

Theo pháp luật Việt Nam hiện hành, quyết định đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của công ty đối với quý khách là không hợp pháp. Cụ thể, Điều 39 Bộ luật Lao động 2012 quy định đối với lao động nữ thuộc trường hợp quy định tại Khoản 3 Điều 155 Bộ luật Lao động 2012 thì người sử dụng lao động không được quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động.

Theo đó, Khoản 3 Điều 155 Bộ luật lao động 2012 quy định:

“3. Người sử dụng lao động không được sa thải hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với lao động nữ vì lý do kết hôn, mang thai, nghỉ thai sản, nuôi con dưới 12 tháng tuổi, trừ trường hợp người sử dụng lao động là cá nhân chết, bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết hoặc người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động”.

Mục đích của quy định này là để bảo vệ người lao động nữ vẫn có quyền có công việc làm ổn định trong suốt thời kỳ mang thai. Như vậy, trong trường hợp này,việc công ty đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với quý khách vì lý do quý khách đang mang thai tháng thứ 6 nên không còn phù hợp với vị trí công việc nữa được xem là hành vi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật.

Do đó, công ty phải thực hiện những nghĩa vụ theo pháp luật hiện hành. Tuy nhiên, tùy vào từng trường hợp mà pháp luật quy định những nghĩa vụ khác nhau. Cụ thể:

• Công ty phải nhận quý khách trở lại làm việc và phải trả tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong những ngày quý khách không được làm việc cộng với ít nhất 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động (“khoản tiền bồi thường”).

• Nếu như quý khách không còn muốn tiếp tục làm việc nữa thì ngoài khoản tiền bồi thường nêu trên, quý khách sẽ nhận được trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật Lao động 2012.

• Nếu công ty không còn muốn nhận lại quý khách và quý khách đồng ý thì ngoài khoản tiền bồi thường nêu trên và trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật Lao động 2012, hai bên thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng lao động.

• Nếu không còn vị trí, công việc đã giao kết trong hợp đồng lao động mà quý khách vẫn mong muốn làm việc tiếp tục thì ngoài khoản tiền bồi thường nêu trên, hai bên thương lượng để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động.

Vì vậy, quý khách cần xác định được mình thuộc trường hợp nào để biết được chính xác công ty phải có nghĩa vụ như thế nào với mình.

Chúng tôi hi vọng những phần tư vấn trên đây sẽ giúp quý khách giải đáp được các thắc mắc của mình.Xin vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi để chúng tôi có thể cung cấp dịch vụ tư vấn pháp lý tốt nhất cho quý khách.

Agree Comment 0 Agrees over 3 years ago

Please Login or Register to Submit Answer

Directory ads
Need to talk to a lawyer?

Book a phone consultation with a top-rated lawyer on Lawfarm.