This site is under development, some of the functionalities may not work properly.
Anonymous
in Banking Law
Asked May 17, 2017

Luật Ngân hàng - Hạn chế cấp tín dụng

  • 1 Answer
  • 326 Views

Tôi hiện là nhân viên kế toán của ngân hàng thương mại cổ phần X, có ông A nắm giữ 9,03% vốn điều lệ của ngân hàng, đồng thời là phó chủ tịch hội đồng quản trị. Đầu năm nay, ông A không tham gia Hội đồng quản trị của ngân hàng nhưng lại đề nghị hội đồng quản trị ra quyết định thành lập hội đồng sáng lập ngân hàng X, và ông A giữ chức danh Phó chủ tịch Hội đồng sáng lập ngân hàng X, có chức năng tư vấn cho hội đồng quản trị, và được quyền tham gia và cho ý kiến tại tất cả các cuộc họp của hội đồng quản trị. Tháng trước tôi có nhận được thông tin ngân hàng X đã cho ông A vay khoản tiền 10 tỷ đồng. Cho tôi hỏi việc cho vay của ngân hàng trong trường hợp này có phù hợp với quy định của pháp luật không.

Answer 1

Trong vụ việc này, ngân hàng X nơi quý khách đang làm việc đã thực hiện hoạt động cấp tín dụng cho ông A. Pháp luật hiện hành quy định các trường hợp cấm cấp tín dụng tại Điều 126 Luật Các tổ chức tín dụng 2010. Theo đó, tổ chức tín dụng không được cấp tín dụng đối với những tổ chức, cá nhân sau đây:

(i) Thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng thành viên, thành viên Ban kiểm soát, Tổng giám đốc (Giám đốc), Phó Tổng giám đốc (Phó giám đốc) và các chức danh tương đương của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, pháp nhân là cổ đông có người đại diện phần vốn góp là thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Ban kiểm soát của tổ chức tín dụng là công ty cổ phần, pháp nhân là thành viên góp vốn, chủ sở hữu của tổ chức tín dụng là công ty trách nhiệm hữu hạn; và

(ii) Cha, mẹ, vợ, chồng, con của thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng thành viên, thành viên Ban kiểm soát, Tổng giám đốc (Giám đốc), Phó Tổng giám đốc (Phó giám đốc) và các chức danh tương đương.

Ông A trong trường hợp này, dù không tham gia Hội đồng quản trị của ngân hàng nhưng lại giữ chức danh Phó chủ tịch Hội đồng sáng lập ngân hàng X. Đây là một chức danh không được nêu trong quy định cấm tại Điều 126 Luật các Tổ chức tín dụng 2010. Tuy nhiên, chúng ta cần xem xét đến chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của chức danh này. Theo thông tin quý khách cung cấp thì thành viên hội đồng sáng lập có chức năng (i) tư vấn cho hội đồng quản trị, (ii) được quyền tham gia và cho ý kiến tại tất cả các cuộc họp của hội đồng quản trị và thường trực hội đồng quản trị, và (iii) được cung cấp đầy đủ các tài liệu về hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Như vậy, có thể thấy ông A có vai trò chỉ đạo, chi phối toàn bộ hoạt động quản trị và điều hành của ngân hàng X. Điều 126 Luật các tổ chức tín dụng 2010 đã có một khoản dự liệu cho trường hợp này, đó là cụm từ “các chức danh tương đương của tổ chức tín dụng”, như những phân tích nêu trên thì chức danh của ông A trong ngân hàng của quý khách chịu sự điều chỉnh của quy định cấm này. Do đó, việc ngân hàng X của quý khách cấp tín dụng cho ông A là không phù hợp với quy định của pháp luật.

[Khoản 1 Điều 11 Thông tư 36/2014/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài]

Điều 11. Trường hợp không được cấp tín dụng

1. Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài không được cấp tín dụng đối với những đối tượng quy định tại Điều 126 Luật các tổ chức tín dụng.

Chúng tôi hi vọng những phần tư vấn trên đây sẽ giúp quý khách giải đáp được các thắc mắc của mình.Xin vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi để chúng tôi có thể cung cấp dịch vụ tư vấn pháp lý tốt nhất cho quý khách.

Agree Comment 0 Agrees almost 4 years ago

Please Login or Register to Submit Answer

Directory ads
Need to talk to a lawyer?

Book a phone consultation with a top-rated lawyer on Lawfarm.