Anonymous
in Banking Law
Asked May 08, 2017

Luật Ngân hàng - Không trả được nợ ngân hàng

  • 1 Answer
  • 207 Views

Năm 2013, tôi có vay Ngân hàng X số tiền là 50 triệu đồng, để mua xe máy trả góp, thời hạn vay là 3 năm. Hai năm đầu, tôi trả đầy đủ. Đến năm thứ ba, do vợ tôi bị bệnh nên toàn bộ thu nhập được dùng để chữa bệnh cho vợ và tôi không trả tiếp khoản vay tại Ngân hàng X được. Xin hỏi luật sư, tôi sẽ bị xử lý như thế nào nếu không trả hết được số tiền 50 triệu nói trên?

Answer 1

Trong trường hợp này, vì chúng tôi không rõ thông tin về thời hạn khoản vay của quý khách và Ngân hàng X nên chúng tôi xin phép đưa ra tư vấn pháp lý cho quý khách trong hai (02) trường hợp như sau:

Trường hợp 1: Nếu thời hạn vay trong hợp đồng tín dụng chưa hết

Trong trường hợp thời hạn vay quy định tại hợp đồng tín dụng mà quý khách và Ngân hàng X đã giao kết chưa hết, quý khách có các quyền và nghĩa vụ căn cứ theo Điều 24 Văn bản hợp nhất số 20/VBHN-NHNN năm 2014 hợp nhất Quyết định về việc ban hành quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng (“Văn bản hợp nhất số 20/VBHN-NHNN năm 2014”). Cụ thể:

“1. Khách hàng vay có quyền:

a) Từ chối các yêu cầu của tổ chức tín dụng không đúng với các thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng;

b) Khiếu nại, khởi kiện việc vi phạm hợp đồng tín dụng theo quy định của pháp luật;

2. Khách hàng vay có nghĩa vụ:

a) Cung cấp đầy đủ, trung thực các thông tin, tài liệu liên quan đến việc vay vốn và chịu trách nhiệm về tính chính xác của các thông tin, tài liệu đã cung cấp;

b) Sử dụng vốn vay đúng mục đích, thực hiện đúng các nội dung đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng và các cam kết khác;

c) Trả nợ gốc và lãi vốn vay theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng;

d) Chịu trách nhiệm trước pháp luật khi không thực hiện đúng những thỏa thuận về việc trả nợ vay và thực hiện các nghĩa vụ bảo đảm nợ vay đã cam kết trong hợp đồng tín dụng.”

Với quy định trên, quý khách phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi cho ngân hàng theo thỏa thuận ban đầu của các bên. Trường hợp này, vì thời hạn cho vay vẫn chưa hết, việc dừng trả nợ của quý khách vẫn chưa bị xem là vi phạm nghĩa vụ đối với Ngân hàng X.

Trường hợp 2: Nếu thời hạn vay trong hợp đồng tín dụng đã hết

Trong trường hợp này, quý khách đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ đối với Ngân hàng X và khoản nợ này có thể được Ngân hàng X đánh giá là không có khả năng trả nợ đúng hạn và được xem là nợ quá hạn căn cứ theo quy định tại Khoản 2 Điều 13 Văn bản hợp nhất số 20/VBHN-NHNN năm 2014. Cụ thể:

“Đối với khoản nợ vay không trả nợ đúng hạn, được tổ chức tín dụng đánh giá là không có khả năng trả nợ đúng hạn và không chấp thuận cho cơ cấu lại thời hạn trả nợ, thì số dư nợ gốc của hợp đồng tín dụng đó là nợ quá hạn và tổ chức tín dụng thực hiện các biện pháp để thu hồi nợ; việc phạt chậm trả đối với nợ quá hạn và nợ lãi vốn vay do hai bên thỏa thuận trên cơ sở quy định của pháp luật. Tổ chức tín dụng phân loại toàn bộ số dư nợ gốc của khách hàng vay có nợ quá hạn vào tài khoản cho vay thích hợp theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.”

Theo đó, ngân hàng có thể (a) xử lý tài sản bảo đảm của quý khách (nếu có), hoặc (b) khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc quý khách phải thanh toán khoản vay căn cứ theo quy định tại Điểm đ và e Khoản 1 Điều 25 Văn bản hợp nhất số 20/VBHN-NHNN năm 2014. Đó là:

“đ) Khởi kiện khách hàng vi phạm hợp đồng tín dụng hoặc người bảo lãnh theo quy định của pháp luật;

e) Khi đến hạn trả nợ mà khách hàng không trả nợ, nếu các bên không có thỏa thuận khác, thì tổ chức tín dụng có quyền xử lý tài sản bảo đảm vốn vaytheo sự thỏa thuận trong hợp đồng để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật hoặc yêu cầu người bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh đối với trường hợp khách hàng được bảo lãnh vay vốn.”

Chúng tôi hi vọng những phần tư vấn trên đây sẽ giúp quý khách giải đáp được các thắc mắc của mình.Xin vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi để chúng tôi có thể cung cấp dịch vụ tư vấn pháp lý tốt nhất cho quý khách.

Ghi chú

Văn bản hợp nhất Quyết định về Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng

Văn bản hợp nhất 20/VBHN-NHNN năm 2014 hợp nhất Quyết định Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành, hợp nhất:

Văn bản hợp nhất Nghị định về giao dịch bảo đảm

Văn bản hợp nhất 8019/VBHN-BTP năm 2016 quy định về giao dịch bảo đảm, hợp nhất:

  • Nghị định số 83/2010/NĐ-CP ngày 23 tháng 7 năm 2010 của Chính phủ về đăng ký giao dịch bảo đảm, có hiệu lực kể từ ngày 09 tháng 9 năm 2010.
  • Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22 tháng 02 năm 2012 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29 tháng 12 năm 2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm, có hiệu lực kể từ ngày 10 tháng 4 năm 2012.

Văn bản hợp nhất Nghị định về đăng ký giao dịch bảo đảm

Văn bản hợp nhất số 8020/VBHN-BTP năm 2013 quy định về đăng ký giao dịch bảo đảm, hợp nhất:

  • Nghị định số 83/2010/NĐ-CP ngày 23 tháng 7 năm 2010 của Chính phủ về đăng ký giao dịch bảo đảm, có hiệu lực kể từ ngày 09 tháng 9 năm 2010
  • Nghị định số 05/2012/NĐ-CP ngày 02 tháng 02 năm 2012 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định về đăng ký giao dịch bảo đảm, trợ giúp pháp lý, luật sư, tư vấn pháp luật, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 4 năm 2012.
Agree Comment 0 Agrees over 3 years ago

Please Login or Register to Submit Answer

Directory ads
Need to talk to a lawyer?

Book a phone consultation with a top-rated lawyer on Lawfarm.