This site is under development, some of the functionalities may not work properly.
Anonymous
in Banking Law
Asked May 12, 2017

Luật Ngân hàng - Vấn đề giải phóng trách nhiệm thế chấp

  • 1 Answer
  • 463 Views

Tôi là bạn của Giám đốc công ty TNHH A, được thành lập và cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp vào tháng 2/2015. Để phát triển sản xuất, công ty A có yêu cầu xin vay tại Ngân hàng thương mại cổ phần B và tôi đứng ra thế chấp quyền sử dụng thửa đất tại quận 7 của mình để bảo đảm cho khoan vay của công ty A. Hợp đồng thế chấp giữa tôi và ngân hàng B có công chứng và đã hoàn thành các thủ tục đăng ký thế chấp. Ngoài ra, trước khi đồng ý bảo đảm cho khoản vay này, tôi có ký kết với công ty A một thỏa thuận khác với nội dung: công ty A có nghĩa vụ trích từ số tiền vay, trả cho tôi số tiền hoa hồng là 20 triệu cho việc bảo đảm ngay khi công ty A nhận được tiền của ngân hàng. Tôi xin hỏi Luật sư trong trường hợp không nhận được tiền hoa hồng, tôi có được giải phóng khỏi trách nhiệm bảo đảm cho khoản nợ của công ty A không?

Answer 1

Theo quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, trong trường hợp này, nếu không nhận được tiền hoa hồng từ công ty A, quý khách cũng không được giải phóng khỏi trách nhiệm bảo đảm cho khoản vay của công ty A tại ngân hàng thương mại cổ phần B.

Khoản 1 Điều 3 Văn bản hợp nhất số 8019/VBHN-BTP năm 2013 hợp nhất Nghị định về giao dịch bảo đảm (“Văn bản hợp nhất số 8019/VBHN-BTP năm 2013”) quy định:

“Bên bảo đảm là bên dùng tài sản thuộc sở hữu của mình, dùng quyền sử dụng đất của mình, dùng uy tín hoặc cam kết thực hiện công việc đối với bên nhận bảo đảm để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ dân sự của chính mình hoặc của người khác, bao gồm bên cầm cố, bên thế chấp, bên đặt cọc, bên ký cược, bên ký quỹ, bên bảo lãnh và tổ chức chính trị - xã hội tại cơ sở trong trường hợp tín chấp.”

Theo đó, bên bảo đảm có thể là bên có nghĩa vụ trong hợp đồng tín dụng (bên vay) hoặc bên thứ ba. Dựa vào những thông tin mà quý khách cung cấp, quý khách được xem là bên thứ ba đứng ra thực hiện nghĩa vụ bảo đảm cho khoản vay của công ty A tại ngân hàng B.

Ngoài ra, hợp đồng thế chấp giữa quý khách và ngân hàng B có công chứng và đã hoàn thành các thủ tục đăng ký thế chấp; do đó, hợp đồng này có hiệu lực kể từ ngày thời điểm đăng ký thế chấp, căn cứ theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 10 Văn bản hợp nhất số 8019/VBHN-BTP năm 2013. Kể từ thời điểm này, quyền và nghĩa vụ của quý khách cũng như ngân hàng B bị ràng buộc theo các thỏa thuận trong hợp đồng thế chấp quyền sử dụng thửa đất tọa lạc tại Quận 7, TPHCM.

Việc ngân hàng B cho công ty A vay trên cơ sở nhận bảo đảm của quý khách đã hình thành quan hệ hợp đồng tín dụng. Căn cứ theo quy định tại Điểm c Khoản 2 Điều 24 Văn bản hợp nhất số 20/VBHN-NHNN năm 2014 hợp nhất Quyết định về việc ban hành quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng (“Văn bản hợp nhất số 20/VBHN-NHNN năm 2014”), công ty A có nghĩa vụ “trả nợ gốc và lãi vốn vay theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng.” Đồng thời, khi đến hạn trả nợ mà công ty A không trả nợ, ngân hàng B có quyền xử lý tài sản bảo đảm vốn vay theo sự thỏa thuận trong hợp đồng (quyền sử dụng thửa đất tọa lạc tại Quận 7, TPHCM của quý khách) để thu hồi nợ, căn cứ theo quy định tại Điểm e Khoản 1 Điều 25 Văn bản hợp nhất số 20/VBHN-NHNN năm 2014.

Như vậy, từ những quy định và phân tích nêu trên, quý khách không được giải phóng khỏi trách nhiệm khi đã ký kết hợp đồng thế chấp với ngân hàng B. Thỏa thuận nhận tiền hoa hồng giữa quý khách và công ty A là một thỏa thuận riêng biệt, không liên quan đến hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất cũng như hợp đồng tín dụng đã nêu trên. Nếu công ty A không trả tiền hoa hồng cho quý khách, dựa trên thỏa thuận đã ký kết, công ty A đã vi phạm nghĩa vụ của mình và quý khách có quyền khởi kiện tại Toà án có thẩm quyền buộc công ty A trả khoản tiền hoa hồng 20 triệu đồng cho việc bảo đảm vay. Thời hiệu khởi kiện là hai (02) năm kể từ thời điểm quyền và lợi ích hợp pháp của quý khách bị xâm phạm, căn cứ theo quy đinh tại Điều 427 Bộ luật Dân sự 2005.

Chúng tôi hi vọng những phần tư vấn trên đây sẽ giúp quý khách giải đáp được các thắc mắc của mình.Xin vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi để chúng tôi có thể cung cấp dịch vụ tư vấn pháp lý tốt nhất cho quý khách.

Ghi chú

Văn bản hợp nhất Nghị định về giao dịch bảo đảm

Văn bản hợp nhất 8019/VBHN-BTP năm 2016 quy định về giao dịch bảo đảm, hợp nhất:

1. Nghị định số 83/2010/NĐ-CP ngày 23 tháng 7 năm 2010 của Chính phủ về đăng ký giao dịch bảo đảm, có hiệu lực kể từ ngày 09 tháng 9 năm 2010.

2. Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22 tháng 02 năm 2012 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29 tháng 12 năm 2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm, có hiệu lực kể từ ngày 10 tháng 4 năm 2012.

Văn bản hợp nhất quy chế cho vay

Văn bản hợp nhất số 20/VBHN-NHNN năm 2014 quy định về việc ban hành quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng, hợp nhất:

1. Quyết định số 28/2002/QĐ-NHNN ngày 11 tháng 01 năm 2002 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về sửa đổi Điều 2 Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về việc ban hành Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng, có hiệu lực kể từ ngày 11 tháng 01 năm 2002;

2. Quyết định số 127/2005/QĐ-NHNN ngày 03 tháng 02 năm 2005 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng ban hành theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, có hiệu lực kể từ ngày 7 tháng 03 năm 2005;

3. Quyết định số 783/2005/QĐ-NHNN ngày 31 tháng 5 năm 2005 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về việc sửa đổi, bổ sung Khoản 6 Điều 1 của Quyết định số 127/2005/QĐ-NHNN ngày 3/2/2005 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng ban hành theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, có hiệu lực kể từ ngày 23 tháng 6 năm 2005;

4. Thông tư số 33/2011/TT-NHNN ngày 08 tháng 10 năm 2011 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 13/2010/TT-NHNN ngày 20 tháng 5 năm 2010 quy định về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng và Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng ban hành kèm theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31 tháng 12 năm 2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, có hiệu lực kể từ ngày 10 tháng 10 năm 2011.

Agree Comment 0 Agrees almost 4 years ago

Please Login or Register to Submit Answer

Directory ads
Need to talk to a lawyer?

Book a phone consultation with a top-rated lawyer on Lawfarm.