This site is under development, some of the functionalities may not work properly.
Anonymous
in Intellectual Property Law
Asked May 10, 2017

Luật Sở hữu trí tuệ - Quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc

  • 1 Answer
  • 716 Views

Tôi là tác giả của ca khúc X. Từ ngày 15/8/2015, tôi có cho bà Nguyễn Ngọc Tâm độc quyền sử dụng ca khúc này trong thời hạn 02 năm. Từ đó đến nay, tôi không hề ký thêm hợp đồng nào cho ca khúc này. Ngày 15/12/2015, tôi phát hiện trong album Vol.5 của ca sĩ trẻ Nguyễn Ngọc Thành phát hành có sử dụng ca khúc này, đồng thời anh ta còn tự ý sửa tên bài hát và thay đổi một số ca từ trong bài hát. Xin hỏi trong trường hợp này, tôi có thể khởi kiện ca sĩ này hay không? Nếu có, hành vi này sẽ bị xử phạt như thế nào theo quy định pháp luật?

Answer 1

Trong trường hợp này, quý khách có thể khởi kiện ca sĩ Nguyễn Ngọc Thành vì hành vi xâm phạm quyền tác giả theo quy định pháp luật Việt Nam hiện hành.

Quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc

Dựa theo thông tin quý khách cung cấp cho chúng tôi, ca khúc X là một tác phẩm âm nhạc. Bởi lẽ, Khoản 7 Điều 4 Văn bản hợp nhất số 19/VBHN-VPQH năm 2013 hợp nhất Luật Sở hữu trí tuệ (“Văn bản hợp nhất số 19/VBHN-VPQH năm 2013”) quy định, tác phẩm là sản phẩm sáng tạo trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật và khoa học thể hiện bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào. Mặt khác, căn cứ theo quy định tại Điều 12 Văn bản hợp nhất số 3198/VBHN-BVHTTDL năm 2013 hợp nhất Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật dân sự, Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả và quyền liên quan (“Văn bản hợp nhất số 3198/VBHN-BVHTTDL năm 2013”) thì “tác phẩm âm nhạc là tác phẩm được thể hiện dưới dạng nhạc nốt trong bản nhạc hoặc các ký tự âm nhạc khác có hoặc không có lời, không phụ thuộc vào việc trình diễn hay không trình diễn.”

Theo đó, một tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả nếu thỏa mãn hai điều kiện: (i) mang tính sáng tạo; và (ii) được thể hiện dưới hình thức vật chất nhất định. Dựa trên những thông tin mà quý khách cung cấp cho chúng tôi, ca  khúc X (i) là kết quả của hoạt động sáng tạo trí tuệ trực tiếp của quý khách, được tạo ra lần đầu tiên không sao chép từ tác phẩm của người khác; đồng thời (ii) được thể hiện dưới dạng nhất định nên ca khúc này được bảo hộ quyền tác giả căn cứ theo quy định tại Điểm d Khoản 1 Điều 14 Văn bản hợp nhất 19/VBHN-VPQH năm 2013.

Theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, quyền tác giả đối với tác phẩm của mình được bảo hộ tự động; do đó, ca khúc của quý khách sẽ được bảo hộ ngay từ khi quý khách sáng tác ra nó, căn cứ tại Khoản 1 Điều 6 Văn bản hợp nhất số 19/VBHN-VPQH năm 2013:

Điều 6. Căn cứ phát sinh, xác lập quyền sở hữu trí tuệ

1. Quyền tác giả phát sinh kể từ khi tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định, không phân biệt nội dung, chất lượng, hình thức, phương tiện, ngôn ngữ, đã công bố hay chưa công bố, đã đăng ký hay chưa đăng ký.”

Bên cạnh đó, vì quý khách vừa trực tiếp sáng tác vừa sử dụng thời gian, tài chính, cơ sở vật chất - kỹ thuật của mình để sáng tạo ra ca khúc X nên quý khách là tác giả đồng thời là chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm này, căn cứ theo quy định tại Điều 37 Văn bản hợp nhất số 19/VBHN-VPQH năm 2013. Theo đó, quý khách sẽ có các quyền nhân thân và tài sản theo quy định tại Điều 19 và Điều 20 Văn bản hợp nhất số 19/VBHN-VPQH năm 2013. Cụ thể:

Điều 19. Quyền nhân thân

Quyền nhân thân bao gồm các quyền sau đây:

1. Đặt tên cho tác phẩm.

2. Đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm; được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng.

3. Công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm.

4. Bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cho người khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả.

Điều 20. Quyền tài sản

1. Quyền tài sản bao gồm các quyền sau đây:

a) Làm tác phẩm phái sinh;

b) Biểu diễn tác phẩm trước công chúng;

c) Sao chép tác phẩm;

d) Phân phối, nhập khẩu bản gốc hoặc bản sao tác phẩm;

đ) Truyền đạt tác phẩm đến công chúng bằng phương tiện hữu tuyến, vô tuyến, mạng thông tin điện tử hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào khác;

e) Cho thuê bản gốc hoặc bản sao tác phẩm điện ảnh, chương trình máy tính.

2. Các quyền quy định tại khoản 1 Điều này do tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện theo quy định của Luật này.

3. Tổ chức, cá nhân khi khai thác, sử dụng một, một số hoặc toàn bộ các quyền quy định tại khoản 1 Điều này và khoản 3 Điều 19 của Luật này phải xin phép và trả tiền nhuận bút, thù lao, các quyền lợi vật chất khác cho chủ sở hữu quyền tác giả.

Hành vi xâm phạm quyền tác giả

Theo quy định tại Khoản 5 và Khoản 8 Điều 28 Văn bản hợp nhất 19/VBHN-VPQH năm 2013, hành vi ca sĩ Nguyễn Ngọc Thành sử dụng ca khúc này, đồng thời còn tự ý sửa tên bài hát và thay đổi một số ca từ trong bài hát được xem là hành vi sử dụng tác phẩm mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả và sửa chữa tác phẩm gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả.Cụ thể:

Điều 28. Hành vi xâm phạm quyền tác giả

...

5. Sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả.

8. Sử dụng tác phẩm mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả, không trả tiền nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất khác theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 25 của Luật này.”

Xử phạt hành chính đối với hành vi xâm phạm quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm

Với hành vi trên, quý khách có thể bị phạt tiền từ 3 triệu đồng đến 5 triệu đồng cùng với biện pháp khắc phục hậu quả căn cứ theo quy định tại Điều 10 Nghị định 131/2013/NĐ-CP của Chính phủ về việc quy định xử phạt vi phạm hành chính về quyền tác giả, quyền liên quan. Cụ thể:

“Điều 10. Hành vi xâm phạm quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm

1. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi tự ý sửa chữa, cắt xén tác phẩm gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả.

2. Phạt tin từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi xuyên tạc tác phẩm gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả.

3. Biện pháp khắc phục hậu quả:

a) Buộc cải chính công khai trên phương tiện thông tin đại chúng thông tin sai sự thật đi với hành vi quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều này;

b) Buộc dỡ bỏ bản sao tác phẩm vi phạm dưới hình thức điện tử, trên môi trường Internet và kỹ thuật số hoặc buộc tiêu hủy tang vật vi phạm đi với hành vi quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều này”.

Chúng tôi hi vọng những phần tư vấn trên đây sẽ giúp quý khách giải đáp được các thắc mắc của mình.Xin vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi để chúng tôi có thể cung cấp dịch vụ tư vấn pháp lý tốt nhất cho quý khách.

Ghi chú:

Văn bản hợp nhất Luật Sở hữu trí tuệ

Văn bản hợp nhất số 19/VBHN-VPQH năm 2013 hợp nhất Luật Sở hữu trí tuệ, hợp nhất:

  • Luật sở hữu trí tuệ số 50/2005/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2005 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2006;
  • Luật số 36/2009/QH12 ngày 19 tháng 6 năm 2009 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật sở hữu trí tuệ, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2010.

Văn bản hợp nhất Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật dân sự, Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả và quyền liên quan

Văn bản hợp nhất số 3198/VBHN-BVHTTDL năm 2013 hợp nhất Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật dân sự, Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả và quyền liên quan, hợp nhất:

  • Nghị định số 100/2006/NĐ-CP ngày 21 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Dân sự, Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả và quyền liên quan, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 17 tháng 10 năm 2006;
  • Nghị định số 85/2011/NĐ-CP ngày 20 tháng 9 năm 2011 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 100/2006/NĐ-CP ngày 21 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Dân sự, Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả và quyền liên quan, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 10 tháng 11 năm 2011;
  • Nghị định số 01/2012/NĐ-CP ngày 04 tháng 01 năm 2012 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc bãi bỏ, hủy bỏ các quy định có liên quan đến thủ tục hành chính thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 27 tháng 02 năm 2012.
Agree Comment 0 Agrees almost 4 years ago

Please Login or Register to Submit Answer

Directory ads
Need to talk to a lawyer?

Book a phone consultation with a top-rated lawyer on Lawfarm.