This site is under development, some of the functionalities may not work properly.
Anonymous
in Intellectual Property Law
Asked May 10, 2017

Luật Sở hữu trí tuệ - Quyền tác giả đối với tác phẩm sân khấu

  • 1 Answer
  • 329 Views

Tôi là một biên kịch. Tháng 7/2015, tôi có biên kịch một vở kịch câm cho công ty cổ phần sân khấu – điện ảnh A với nội dung theo yêu cầu của họ. Sau khi tôi lên ý tưởng gửi cho phía công ty, họ có thông báo với tôi rằng, công ty không chấp nhận bài biên kịch này vì không đạt yêu cầu như mong muốn. Tuy nhiên, cách đây một tuần, tôi phát hiện vở kịch câm này được biểu diễn ở các sân khấu của công ty A. Xin hỏi trong trường hợp này, tôi có thể khởi kiện công ty A hay không?

Answer 1

Trong trường hợp này, quý khách có thể khởi kiện công ty A vì hành vi của công ty A được xem là hành vi xâm phạm quyền tác giả theo quy định pháp luật Việt Nam hiện hành.

Quyền tác giả đối với tác phẩm sân khấu

Dựa theo thông tin quý khách cung cấp cho chúng tôi, vở kịch câm là một tác phẩm sân khấu. Bởi lẽ, Khoản 7 Điều 4 Văn bản hợp nhất số 19/VBHN-VPQH năm 2013 hợp nhất Luật Sở hữu trí tuệ (“Văn bản hợp nhất số 19/VBHN-VPQH năm 2013”) quy định, tác phẩm là sản phẩm sáng tạo trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật và khoa học thể hiện bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào.

Mặt khác, căn cứ theo quy định tại Điều 13 Văn bản hợp nhất số 3198/VBHN-BVHTTDL năm 2013 hợp nhất Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật dân sự, Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả và quyền liên quan (“Văn bản hợp nhất số 3198/VBHN-BVHTTDL năm 2013”) thì tác phẩm sân khấu là tác phẩm thuộc các loại hình nghệ thuật biểu diễn, bao gồm kịch (kịch nói, nhạc vũ kịch, ca kịch, kịch câm), xiếc, múa, múa rối và các loại hình tác phẩm sân khấu khác.

Theo đó, một tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả nếu thỏa mãn hai điều kiện: (i) mang tính sáng tạo; và (ii) được thể hiện dưới hình thức vật chất nhất định. Dựa trên những thông tin mà quý khách cung cấp cho chúng tôi thì nội dung vở kịch câm mà quý khách sáng tác thỏa mãn cả hai điều kiện này nên nó đương nhiên được bảo hộ quyền tác giả căn cứ theo quy định tại Điểm đ Khoản 1 Điều 14 Văn bản hợp nhất số 19/VBHN-VPQH năm 2013.

Theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, quyền tác giả đối với tác phẩm của mình được bảo hộ tự động; do đó, nội dung vở kịch câm của quý khách sẽ được bảo hộ ngay từ khi được tạo ra, căn cứ tại Khoản 1 Điều 6 Văn bản hợp nhất số 19/VBHN-VPQH năm 2013:

Điều 6. Căn cứ phát sinh, xác lập quyền sở hữu trí tuệ

1. Quyền tác giả phát sinh kể từ khi tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định, không phân biệt nội dung, chất lượng, hình thức, phương tiện, ngôn ngữ, đã công bố hay chưa công bố, đã đăng ký hay chưa đăng ký.”

Bên cạnh đó, vì quý khách đã sử dụng thời gian, tài chính, cơ sở vật chất - kỹ thuật của mình để sáng tạo ra vở kịch câm nên quý khách còn có những quyền cụ thể theo như quy định tại Điều 21 Văn bản hợp nhất 19/VBHN-VPQH năm 2013. Cụ thể:

Điều 21. Quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh, tác phẩm sân khấu

1. Người làm công việc đạo diễn, biên kịch, quay phim, dựng phim, sáng tác âm nhạc, thiết kế mỹ thuật, thiết kế âm thanh, ánh sáng, mỹ thuật trường quay, thiết kế đạo cụ, kỹ xảo và các công việc khác có tính sáng tạo đối với tác phẩm điện ảnh được hưởng các quyền quy định tại các khoản 1, 2 và 4 Điều 19 của Luật này và các quyền khác theo thỏa thuận.

Người làm công việc đạo diễn, biên kịch, biên đạo múa, sáng tác âm nhạc, thiết kế mỹ thuật, thiết kế âm thanh, ánh sáng, mỹ thuật sân khấu, thiết kế đạo cụ, kỹ xảo và các công việc khác có tính sáng tạo đối với tác phẩm sân khấu được hưởng các quyền quy định tại các khoản 1, 2 và 4 Điều 19 của Luật này và các quyền khác theo thỏa thuận.

2. Tổ chức, cá nhân đầu tư tài chính và cơ sở vật chất - kỹ thuật để sản xuất tác phẩm điện ảnh, tác phẩm sân khấu là chủ sở hữu các quyền quy định tại khoản 3 Điều 19 và Điều 20 của Luật này.

3. Tổ chức, cá nhân quy định tại khoản 2 Điều này có nghĩa vụ trả tiền nhuận bút, thù lao và các quyền lợi vật chất khác theo thỏa thuận với những người quy định tại khoản 1 Điều này.

Điều 20. Quyền tài sản

...

3. Tổ chức, cá nhân khi khai thác, sử dụng một, một số hoặc toàn bộ các quyền quy định tại khoản 1 Điều này và khoản 3 Điều 19 của Luật này phải xin phép và trả tiền nhuận bút, thù lao, các quyền lợi vật chất khác cho chủ sở hữu quyền tác giả.

Hành vi xâm phạm quyền tác giả

Theo quy định tại Khoản 8 Điều 28 Văn bản hợp nhất 19/VBHN-VPQH năm 2013, hành vi công ty A sử dụng vở kịch câm của quý khách biên kịch để biểu diện nhằm mục đích thương mại mà không được sự đồng ý của quý khách được xem là hành vi sử dụng tác phẩm mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả.Cụ thể:

Điều 28. Hành vi xâm phạm quyền tác giả

8. Sử dụng tác phẩm mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả, không trả tiền nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất khác theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 25 của Luật này.”

Như vậy, nếu có căn cứ chứng minh công ty A đã sử dụng bài biên kịch vở kịch câm của quý khách mà không xin phép, quý khách có quyền khởi kiện công ty A vì hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ.

Chúng tôi hi vọng những phần tư vấn trên đây sẽ giúp quý khách giải đáp được các thắc mắc của mình.Xin vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi để chúng tôi có thể cung cấp dịch vụ tư vấn pháp lý tốt nhất cho quý khách.

Ghi chú:

Văn bản hợp nhất Luật Sở hữu trí tuệ

Văn bản hợp nhất số 19/VBHN-VPQH năm 2013 hợp nhất Luật Sở hữu trí tuệ, hợp nhất:

  • Luật sở hữu trí tuệ số 50/2005/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2005 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2006;
  • Luật số 36/2009/QH12 ngày 19 tháng 6 năm 2009 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật sở hữu trí tuệ, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2010.

Văn bản hợp nhất Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật dân sự, Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả và quyền liên quan

Văn bản hợp nhất số 3198/VBHN-BVHTTDL năm 2013 hợp nhất Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật dân sự, Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả và quyền liên quan, hợp nhất:

  • Nghị định số 100/2006/NĐ-CP ngày 21 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Dân sự, Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả và quyền liên quan, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 17 tháng 10 năm 2006;
  • Nghị định số 85/2011/NĐ-CP ngày 20 tháng 9 năm 2011 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 100/2006/NĐ-CP ngày 21 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Dân sự, Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả và quyền liên quan, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 10 tháng 11 năm 2011;
  • Nghị định số 01/2012/NĐ-CP ngày 04 tháng 01 năm 2012 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc bãi bỏ, hủy bỏ các quy định có liên quan đến thủ tục hành chính thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 27 tháng 02 năm 2012.
Agree Comment 0 Agrees almost 4 years ago

Please Login or Register to Submit Answer

Directory ads
Need to talk to a lawyer?

Book a phone consultation with a top-rated lawyer on Lawfarm.