This site is under development, some of the functionalities may not work properly.
Anonymous
in Intellectual Property Law
Asked May 10, 2017

Luật Sở hữu trí tuệ - Sử dụng tác phẩm khuyết danh

  • 1 Answer
  • 467 Views

Tôi đang có ý định sử dụng một số bài thơ khuyết danh để phát hành tập thơ của cá nhân mình.Tôi xin hỏi luật sư khi sử dụng các tác phẩm khuyết danh này, tôi có phải xin phép không vì hiện tại, tôi không biết được ai là tác giả hay người quản lý những tác phẩm này?

Answer 1

Căn cứ theo quy định tại Khoản 2 Điều 4 Văn bản hợp nhất số 3198/VBHN-BVHTTDL năm 2013 hợp nhất Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật dân sự, Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả và quyền liên quan (“Văn bản hợp nhất số 3198/VBHN-BVHTTDL năm 2013”), tác phẩm khuyết danh là “tác phẩm không có tên tác giả (tên thật hoặc bút danh) trên tác phẩm khi công bố.”. Như vậy, những bài thơ khuyết danh mà quý khách có ý định sử dụng được xem là các tác phẩm khuyết danh.

Theo đó, vấn đề pháp lý đầu tiên cần làm rõ là thời hạn bảo hộ của tác phẩm khuyết danh. Căn cứ theo quy định tại Khoản 2 Điều 27 Văn bản hợp nhất số 19/VBHN-VPQH năm 2013 hợp nhất Luật Sở hữu trí tuệ (“Văn bản hợp nhất 19/VBHN-VPQH năm 2013”), thời hạn bảo hộ quyền công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm và các quyền tài sản của tác phẩm khuyết danh có thời hạn bảo hộ là 75 năm kể từ khi tác phẩm được công bố lần đầu tiên:

“2. Quyền nhân thân quy định tại khoản 3 Điều 19 và quyền tài sản quy định tại Điều 20 của Luật này có thời hạn bảo hộ như sau:

a) Tác phẩm điện ảnh, nhiếp ảnh, mỹ thuật ứng dụng, tác phẩm khuyết danh có thời hạn bảo hộ là bảy mươi lăm năm, kể từ khi tác phẩm được công bố lần đầu tiên; đối với tác phẩm điện ảnh, nhiếp ảnh, mỹ thuật ứng dụng chưa được công bố trong thời hạn hai mươi lăm năm, kể từ khi tác phẩm được định hình thì thời hạn bảo hộ là một trăm năm, kể từ khi tác phẩm được định hình; đối với tác phẩm khuyết danh, khi các thông tin về tác giả xuất hiện thì thời hạn bảo hộ được tính theo quy định tại điểm b khoản này.”

Trong trường hợp này, vì thông tin quý khách cung cấp chưa rõ nên chúng tôi xin được chia thành hai (02) trường hợp để tư vấn:

  • Trường hợp 1: Tác phẩm khuyết danh trong thời hạn bảo hộ

Theo quy định pháp luật hiện hành, nếu những tác phẩm khuyết danh mà quý khách dự định sử dụng không thuộc sự quản lý của tổ chức, cá nhân nào thì quyền tác giả đối với những tác phẩm khuyết danh này thuộc sở hữu của Nhà nước và quý khách phải thực hiện các nghĩa vụ khi sử dụng những tác phẩm này.

Căn cứ theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 42 và Khoản 2 Điều 41 Văn bản hợp nhất 19/VBHN-VPQH năm 2013, Nhà nước là chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm khuyết danh nếu không có tổ chức, cá nhân nào đang quản lý tác phẩm khuyết danh đó, cụ thể:

Điều 42. Chủ sở hữu quyền tác giả là Nhà nước

1. Nhà nước là chủ sở hữu quyền tác giả đối với các tác phẩm sau đây:

a) Tác phẩm khuyết danh, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 41 của Luật này [Tổ chức, cá nhân đang quản lý tác phẩm khuyết danh được hưởng quyền của chủ sở hữu cho đến khi danh tính của tác giả được xác định.]”

Theo đó, khi sử dụng những tác phẩm là bài thơ khuyết danh trên, quý khách phải thực hiện các nghĩa vụ sau tại Cục bản quyền tác giả, căn cứ theo quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều 29 Văn bản hợp nhất số 3198/VBHN-BVHTTDL năm 2013:

  • Xin phép sử dụng;
  • Thanh toán tiền nhuận bút, thù lao, các quyền lợi vật chất khác;
  • Nộp một bản sao tác phẩm trong thời hạn ba mươi ngày kể từ ngày phổ biến, lưu hành.
    • Trường hợp 2: Tác phẩm khuyết danh hết thời hạn bảo hộ

    Theo đó, trong trường hợp này, căn cứ theo quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều 43 Văn bản hợp nhất 19/VBHN-VPQH năm 2013, tác phẩm khuyết danh thuộc về công chúng và quý khách có quyền tự do các sử dụng tác phẩm này nhưng quý khách (i) không được đặt lại tên cho tác phẩm; (ii) không được thay đổi việc đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm; nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng; (iii) không được xâm phạm sự toàn vẹn của tác phẩm, sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào.

    Điều 43. Tác phẩm thuộc về công chúng

    1. Tác phẩm đã kết thúc thời hạn bảo hộ theo quy định tại Điều 27 của Luật này thì thuộc về công chúng.

    2. Mọi tổ chức, cá nhân đều có quyền sử dụng tác phẩm quy định tại khoản 1 Điều này nhưng phải tôn trọng các quyền nhân thân của tác giả quy định tại Điều 19 của Luật này.”

    Chúng tôi hi vọng những phần tư vấn trên đây sẽ giúp quý khách giải đáp được các thắc mắc của mình.Xin vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi để chúng tôi có thể cung cấp dịch vụ tư vấn pháp lý tốt nhất cho quý khách.

    Ghi chú:

    Văn bản hợp nhất Luật Sở hữu trí tuệ

    Văn bản hợp nhất số 19/VBHN-VPQH năm 2013 hợp nhất Luật Sở hữu trí tuệ, hợp nhất:

    • Luật sở hữu trí tuệ số 50/2005/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2005 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2006;
    • Luật số 36/2009/QH12 ngày 19 tháng 6 năm 2009 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật sở hữu trí tuệ, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2010.

    Văn bản hợp nhất Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật dân sự, Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả và quyền liên quan

    Văn bản hợp nhất số 3198/VBHN-BVHTTDL năm 2013 hợp nhất Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật dân sự, Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả và quyền liên quan, hợp nhất:

    • Nghị định số 100/2006/NĐ-CP ngày 21 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Dân sự, Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả và quyền liên quan, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 17 tháng 10 năm 2006;
    • Nghị định số 85/2011/NĐ-CP ngày 20 tháng 9 năm 2011 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 100/2006/NĐ-CP ngày 21 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Dân sự, Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả và quyền liên quan, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 10 tháng 11 năm 2011;
    • Nghị định số 01/2012/NĐ-CP ngày 04 tháng 01 năm 2012 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc bãi bỏ, hủy bỏ các quy định có liên quan đến thủ tục hành chính thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 27 tháng 02 năm 2012.
    Agree Comment 0 Agrees almost 4 years ago

    Please Login or Register to Submit Answer

    Directory ads
    Need to talk to a lawyer?

    Book a phone consultation with a top-rated lawyer on Lawfarm.