This site is under development, some of the functionalities may not work properly.
Anonymous
in Civil Law Enforcement of Civil Judgments Law
Asked May 12, 2017

Luật thi hành án dân sự - Nghĩa vụ riêng về tài sản của vợ chồng

  • 1 Answer
  • 257 Views

Trước khi kết hôn, chị B có vay của tôi số tiền là 200 triệu đồng, chỉ cam kết bằng giấy vay nợ mà không có tài sản thế chấp. Hiện nay, chị B không có khả năng trả nợ. Tôi có kiện chị B ra tòa án và tòa xử tôi thắng kiện. Bản án của Tòa án tuyên chị B có nghĩa vụ phải trả cho tôi là 240 triệu (bao gồm nợ gốc và lãi); tuy nhiên chị B hiện không có tài sản cá nhân, chỉ có 1 ngôi nhà đứng tên chồng chị B. Các luật sư cho tôi hỏi, liệu cơ quan thi hành án có quyền đứng ra cưỡng chế ngôi nhà để trả tiền cho tôi không?

Answer 1

Nghĩa vụ riêng về tài sản của vợ, chồng

Theo như thông tin mà quý khách, vì (i) chị B đã vay tiền của quý khách, và (ii) việc vay tiền này thực hiện trước khi kết hôn; nên căn cứ theo quy định tại Khoản 1 Điều 45 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 thì khoản nợ mà chị B đã vay của quý khách trước khi kết hôn được xem là nghĩa vụ riêng về tài sản của chị B. Cụ thể:

Điều 45. Nghĩa vụ riêng về tài sản của vợ, chồng

Vợ, chồng có các nghĩa vụ riêng về tài sản sau đây:

1. Nghĩa vụ của mỗi bên vợ, chồng có trước khi kết hôn;

Theo đó, Khoản 3 Điều 44 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 cũng quy đinh rằng đối với nợ riêng của vợ hoặc chồng có trước khi kết hôn thì vợ, chồng thanh toán bằng tài sản riêng của mình. Điều này có nghĩa là chị B phải dùng tài sản riêng của mình để trả nợ cho quý khách. Trong trường hợp tài sản riêng của vợ [chị B] không đủ để thanh toán khoản nợ của quý khách thì lúc này chị B có thể sử dụng phần tài sản của mình [vợ] trong tài sản chung [vợ và chồng chị B] để thanh toán cho quý khách.

Tài sản chung vợ chồng

Hiện nay, căn cứ theo quy định tại Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 thì tài sản chung của vợ chồng gồm:

  • Tài sản của vợ chồng hình thành trong thời kì hôn nhân [ví dụ như: tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng, thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân], trừ trường hợp được quy định tại Khoản 1 Điều 40 của Luật này [Trong trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng thì phần tài sản được chia, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của mỗi bên sau khi chia tài sản chung là tài sản riêng của vợ, chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác. Phần tài sản còn lại không chia vẫn là tài sản chung của vợ chồng]
  • Tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung; và
  • Tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Đặc biệt, quý khách cần lưu ý rằng quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng. Hơn nữa, Khoản 3 Điều 44 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 cũng quy định “trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung”.

Trong trường hợp của quý khách, do không có đủ thông tin để xác định ngôi nhà đứng tên chồng của chị B là tài sản chung hay tài sản riêng, nên chúng tôi tạm chia ra thành hai (02) trường hợp:

  • Trường hợp 1 - Ngôi nhà là tài sản chung của vợ chồng

Trong trường hợp này, nếu ngôi nhà là tài sản chung của vợ chồng chị B thì cơ quan thi hành án dân sự có thể áp dụng biện pháp kê biên, xử lý phần tài sản chung của chị B trong khối tài sản chung để thực hiện nghĩa vụ trả tiền cho quý khách theo quy định tại Điểm c Khoản 2 Điều 24 của Nghị Định 62/2015/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự. Theo đó, Chấp hành viên xác định phần sở hữu của vợ, chồng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình và thông báo cho vợ, chồng chị B biết.

Trường hợp vợ hoặc chồng chị B không đồng ý với việc xác định của Chấp hành viên thì có quyền yêu cầu Tòa án phân chia tài sản chung trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày được thông báo hợp lệ. Hết thời hạn này mà không có người khởi kiện thì Chấp hành viên tiến hành kê biên, xử lý tài sản và trả lại cho anh B giá trị phần tài sản thuộc quyền sở hữu, sử dụng của anh B.

  • Trường hợp 2 - Ngôi nhà là tài sản riêng của chồng chị B

Trong trường hợp này, cơ quan thi hành án không thể kê biên ngôi nhà là tài sản riêng của chồng chị B để thi hành án.

Chúng tôi hi vọng những phần tư vấn trên đây sẽ giúp quý khách giải đáp được các thắc mắc của mình.Xin vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi để chúng tôi có thể cung cấp dịch vụ tư vấn pháp lý tốt nhất cho quý khách.

Agree Comment 0 Agrees almost 4 years ago

Please Login or Register to Submit Answer

Directory ads
Need to talk to a lawyer?

Book a phone consultation with a top-rated lawyer on Lawfarm.