Anonymous
in Commercial Law
Asked May 08, 2017

Luật Thương mại - Giải quyết tranh chấp bằng con đường trọng tài thương mại

  • 1 Answer
  • 222 Views

Công ty tôi có ký hợp đồng mua sắt thép với một công ty đối tác. Tuy nhiên, đến khi giao hàng thì hàng hóa không đảm bảo chất lượng như thỏa thuận. Bên tôi yêu cầu trả lại hàng và đòi bồi thường thiệt hại thì họ không đồng ý. Tôi muốn hỏi giờ tôi kiện ra trọng tài thương mại để nhờ giải quyết có được không? Nếu trọng tài ra phán quyết rồi thì phán quyết có thể bị kháng cáo hay bị hủy không?

Answer 1

Khởi kiện tại trọng tài thương mại

Theo thông tin quý khách cung cấp, chúng tôi chưa thể khẳng định quý khách có thể tiến hành giải quyết tranh chấp bằng con đường trọng tài hay không. Bởi lẽ, Điều 5 Luật Trọng tài thương mại 2010 quy định tranh chấp được giải quyết bằng trọng tài “nếu các bên có thoả thuận trọng tài. Thỏa thuận trọng tài có thể được lập trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp”. Do đó, điều đầu tiên quý khách cần xem lại nội dung hợp đồng giao kết giữa công ty quý khách và công ty đối tác liệu có một điều khoản trọng tài hay giữa các bên có một thỏa thuận trọng tài độc lập hay không. 

Nếu có, quý khách có thể khởi kiện ra trọng tài thương mại nhờ giải quyết, với điều kiện thỏa thuận trọng tài của hai bên phải có hiệu lực. Theo đó, quý khách cần chú ý:

  • Điều kiện về hình thức
  • Điều 16 Luật trọng tài thương mại 2010 quy định về hình thức thoả thuận trọng tài như sau:

    1. Thỏa thuận trọng tài có thể được xác lập dưới hình thức điều khoản trọng tài trong hợp đồng hoặc dưới hình thức thỏa thuận riêng.

    2. Thoả thuận trọng tài phải được xác lập dưới dạng văn bản. Các hình thức thỏa thuận sau đây cũng được coi là xác lập dưới dạng văn bản:

    a) Thoả thuận được xác lập qua trao đổi giữa các bên bằng telegram, fax, telex, thư điện tử và các hình thức khác theo quy định của pháp luật;

    b) Thỏa thuận được xác lập thông qua trao đổi thông tin bằng văn bản giữa các bên;

    c) Thỏa thuận được luật sư, công chứng viên hoặc tổ chức có thẩm quyền ghi chép lại bằng văn bản theo yêu cầu của các bên;

    d) Trong giao dịch các bên có dẫn chiếu đến một văn bản có thể hiện thỏa thuận trọng tài như hợp đồng, chứng từ, điều lệ công ty và những tài liệu tương tự khác;

    đ) Qua trao đổi về đơn kiện và bản tự bảo vệ mà trong đó thể hiện sự tồn tại của thoả thuận do một bên đưa ra và bên kia không phủ nhận.

  • Điều kiện về chủ thể
  • Do đây là thỏa thuận trọng tài giữa hai công ty, vì thế, chủ thể thực hiện hành vi thỏa thuận, cụ thể là người đại diện của hai công ty phải có năng lực hành vi dân sự. Cụ thể, Khoản 3 Điều 18 Luật trọng tài thương mại 2010 quy định “người xác lập thoả thuận trọng tài không có năng lực hành vi dân sự theo quy định của Bộ luật dân sự.”

  • Điều kiện về nội dung
  • Thỏa thuận trọng tài phải không thuộc các trường hợp vô hiệu được Điều 18 Luật trọng tài thương mại 2010. Cụ thể:

    1. Tranh chấp phát sinh trong các lĩnh vực không thuộc thẩm quyền của Trọng tài quy định tại Điều 2 của Luật này.

    2. Người xác lập thoả thuận trọng tài không có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.

    3. Người xác lập thoả thuận trọng tài không có năng lực hành vi dân sự theo quy định của Bộ luật dân sự.

    4. Hình thức của thoả thuận trọng tài không phù hợp với quy định tại Điều 16 của Luật này.

    5. Một trong các bên bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép trong quá trình xác lập thoả thuận trọng tài và có yêu cầu tuyên bố thoả thuận trọng tài đó là vô hiệu.

    6. Thỏa thuận trọng tài vi phạm điều cấm của pháp luật.

    Trường hợp, hai bên không lập được thỏa thuận trọng tài sau khi xảy ra tranh chấp thì quý khách có thể khởi kiện công ty đối tác tại Tòa án.

    Phán quyết trọng tài

    Phán quyết trọng tài sẽ không bị kháng cáo, bởi lẽ Khoản 5 Điều 4 Luật Trọng tài thương mại năm 2010 quy định về nguyên tắc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài khẳng định “phán quyết trọng tài là chung thẩm”. Tuy nhiên, phán quyết của trọng tài vẫn có thể bị hủy nếu thuộc một trong các trường hợp được quy định tại Khoản 2 Điều 68 Luật Trọng tài thương mại năm 2010. Cụ thể:

    “2. Phán quyết trọng tài bị hủy nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

    a) Không có thoả thuận trọng tài hoặc thỏa thuận trọng tài vô hiệu;

    b) Thành phần Hội đồng trọng tài, thủ tục tố tụng trọng tài không phù hợp với thoả thuận của các bên hoặc trái với các quy định của Luật này;

    c) Vụ tranh chấp không thuộc thẩm quyền của Hội đồng trọng tài; trường hợp phán quyết trọng tài có nội dung không thuộc thẩm quyền của Hội đồng trọng tài thì nội dung đó bị huỷ;

    d) Chứng cứ do các bên cung cấp mà Hội đồng trọng tài căn cứ vào đó để ra phán quyết là giả mạo; Trọng tài viên nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác của một bên tranh chấp làm ảnh hưởng đến tính khách quan, công bằng của phán quyết trọng tài;

    đ) Phán quyết trọng tài trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam”.

    Như vậy, nếu có một trong các căn cứ trên, quý khách có thể gửi đơn yêu cầu Tòa án nơi Hội đồng trọng tài đã tuyên phán quyết trọng tài để yêu cầu hủy phán quyết trọng tài theo quy định tại Điểm g Khoản 2 Điều 7 Luật trọng tài thương mại 2010.

    Chúng tôi hi vọng những phần tư vấn trên đây sẽ giúp quý khách giải đáp được các thắc mắc của mình.Xin vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi để chúng tôi có thể cung cấp dịch vụ tư vấn pháp lý tốt nhất cho quý khách.

    Agree Comment 0 Agrees over 3 years ago

    Please Login or Register to Submit Answer

    Directory ads
    Need to talk to a lawyer?

    Book a phone consultation with a top-rated lawyer on Lawfarm.