This site is under development, some of the functionalities may not work properly.
Anonymous
in Insurance Law
Asked May 15, 2017

Tranh chấp hợp đồng bảo hiểm con người – Đối tượng của hợp đồng bảo hiểm

  • 1 Answer
  • 214 Views

Ngày 8/10/2016, tôi có ký kết một hợp đồng bảo hiểm nhân thọ tại công ty bảo hiểm A (có trụ sở ở TPHCM) mua bảo hiểm cho chồng tôi, phí bảo hiểm là 50 triệu, chia thành hai đợt để đóng. Tại thời điểm mua bảo hiểm tôi và chồng vẫn chưa đăng ký kết hôn nhưng đến ngày 20/10/2016, chúng tôi đã tiến hành thủ tục đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường 15, quận 11, TPHCM. Tôi đã thông báo rõ cho nhân viên của công ty A về tình trạng hôn nhân và có đảm bảo sẽ đăng ký kết hôn ngay trong tháng, nhân viên công ty A đã đồng ý và lập hợp đồng. Ngày 15/12//2016, chồng tôi có về quê thăm họ hàng thì bất ngờ qua đời do bệnh gan. Trước đó, chồng tôi không có bất kỳ bệnh án ở bệnh viện hay trung tâm y tế nào và cũng không biết về việc mình bị bệnh. Tôi đã nộp giấy tờ yêu cầu công ty A trả tiền bảo hiểm cho chồng theo quyền lợi trong hợp đồng đã ký kết. Tuy nhiên, công ty A cho rằng vì tôi và chồng tôi không phải là vợ chồng hợp pháp tại thời điểm mua bảo hiểm nên đã từ chối trả tiền bảo hiểm. Tôi xin hỏi Luật sư trong trường hợp này lập luận của công ty A từ chối trả tiền bảo hiểm cho tôi có đúng không?

Answer 1

Theo quy định pháp luật Việt Nam hiện hành và căn cứ vào các điều khoản mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm con người giao kết ngày 8/10/2016, công ty A có nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm cho quý khách và quý khách có thể khởi kiện yêu cầu Tòa án có thẩm quyền buộc công ty A thực hiện nghĩa vụ này khi công ty A từ chối việc trả tiền bảo hiểm.

Khoản 2 Điều 31 Văn bản hợp nhất số 12/VBHN-VPQH năm 2013 hợp nhất Luật kinh doanh bảo hiểm do Văn phòng Quốc hội ban hành (“Văn bản hợp nhất 12/VBHN-VPQH năm 2013”) có quy định:

Điều 31. Đối tượng của hợp đồng bảo hiểm con người

2. Bên mua bảo hiểm chỉ có thể mua bảo hiểm cho những người sau đây:

a) Bản thân bên mua bảo hiểm;

b) Vợ, chồng, con, cha, mẹ của bên mua bảo hiểm;

c) Anh, chị, em ruột; người có quan hệ nuôi dưỡng và cấp dưỡng;

d) Người khác, nếu bên mua bảo hiểm có quyền lợi có thể được bảo hiểm.”

Theo đó, quý khách chỉ có thể là bên mua bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm con người ký kết ngày 8/10/2016 nếu là vợ hợp pháp của chồng quý khách. Tuy nhiên, dựa vào những thông tin mà quý khách cung cấp, khi ký kết hợp đồng bảo hiểm này, nhân viên của công ty A biết rõ quý khách chưa phải là vợ hợp pháp của chồng quý khách nhưng vẫn lập hợp đồng; do đó, đây là lỗi thuộc về nhân viên của công ty A chứ không phải là lỗi của quý khách về nghĩa vụ cung cấp thông tin. Việc chấp nhận và lập hợp đồng khi quý khách chưa đủ điều kiện đã thể hiện sự đồng ý của công ty A và công ty A phải chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực của thông tin về tình trạng hôn nhân của quý khách. Bên cạnh đó, vì thực tế sau 12 ngày kể từ khi mua bảo hiểm, quý khách và chồng đã tiến hành thủ tục đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền (20/10/2016) nên khi sự kiện bảo hiểm xảy ra (chồng quý khách qua đời do bệnh gan), quý khách đã thuộc đối tượng của hợp đồng bảo hiểm.

Như vậy, quý khách có quyền yêu cầu công ty A trả tiền bảo hiểm và công ty A có nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ yêu cầu trả tiền bảo hiểm hợp lệ nếu các bên không có thỏa thuận khác, căn cứ theo quy định tại Điều 29 Văn bản hợp nhất số 12/VBHN-VPQH năm 2013. Cụ thể:

“Khi xảy ra sự kiện bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm hoặc bồi thường theo thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm; trong trường hợp không có thỏa thuận về thời hạn thì doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm hoặc bồi thường trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ hợp lệ về yêu cầu trả tiền bảo hiểm hoặc bồi thường.”

Trong trường hợp công ty A vẫn từ chối trả tiền bảo hiểm, quý khách có thể khởi kiện yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết, thời hiệu khởi kiện là ba (03) năm kể từ thời điểm phát sinh tranh chấp căn cứ theo quy định tại Điều 30 Văn bản hợp nhất số 12/VBHN-VPQH năm 2013.

Chúng tôi hi vọng những phần tư vấn trên đây sẽ giúp quý khách giải đáp được các thắc mắc của mình. Xin vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi để chúng tôi có thể cung cấp dịch vụ tư vấn pháp lý tốt nhất cho quý khách.

Ghi chú:

Văn bản hợp nhất Luật Kinh doanh bảo hiểm

Văn bản hợp nhất 12/VBHN-VPQH năm 2013 hợp nhất Luật kinh doanh bảo hiểm do Văn phòng Quốc hội ban hành, hợp nhất:

  • Luật kinh doanh bảo hiểm số 24/2000/QH10 ngày 09 tháng 12 năm 2000 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 4 năm 2001; và
  • Luật số 61/2010/QH12 ngày 24 tháng 11 năm 2010 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật kinh doanh bảo hiểm, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2011.
Agree Comment 0 Agrees almost 4 years ago

Please Login or Register to Submit Answer

Directory ads
Need to talk to a lawyer?

Book a phone consultation with a top-rated lawyer on Lawfarm.