This site is under development, some of the functionalities may not work properly.
Anonymous
in Insurance Law
Asked May 15, 2017

Tranh chấp hợp đồng bảo hiểm con người – Trách nhiệm cung cấp thông tin

  • 1 Answer
  • 157 Views

Ngày 6/9/2016, mẹ tôi có tham gia bảo hiểm hỗn hợp 10 năm với công ty bảo hiểm A với mức phí bảo hiểm là 1 triệu đồng/tháng. Khoảng ngày 25/10/2016, mẹ tôi có triệu chứng ho khan, ói mửa, nhức mỏi hai vai nên đến chẩn đoán tại Trung tâm lao phổi tỉnh và phát hiện bị ung thư phế quản phổi. Mẹ tôi điều trị tại Trung tâm này một thời gian, sau đó xuất viện về nhà riêng rồi qua đời vào ngày 12/12/2016. Tôi (theo hợp đồng sẽ là người yêu cầu bảo hiểm khi mẹ tôi qua đời) có gửi hồ sơ đề nghị công ty A thanh toán tiền bảo hiểm nhưng công ty A đã từ chối. Công ty A cho rằng, trước khi ký hợp đồng bảo hiểm, mẹ tôi đã đi khám ở các phòng mạch tư nhưng không thông báo về tình trạng bệnh lý khi được hỏi trong vòng 5 năm trở lại đây có ốm, phẫu thuật hoặc điều trị tại bệnh viện không. Tuy nhiên, trong các lần khám này, mẹ tôi đều được chẩn đoán là sức khỏe bình thường, không có bệnh. Tôi xin hỏi Luật sư trong trường hợp này việc công ty A từ chối trả tiền bảo hiểm có đúng không?

Answer 1

Theo quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, trong trường hợp này, việc công ty bảo hiểm A từ chối trả tiền bảo hiểm cho quý khách là không phù hợp. Bởi lẽ, Khoản 1 Điều 19 Văn bản hợp nhất số 12/VBHN-VPQH năm 2013 hợp nhất Luật kinh doanh bảo hiểm do Văn phòng Quốc hội ban hành (“Văn bản hợp nhất 12/VBHN-VPQH năm 2013”) có quy định:

Điều 19. Trách nhiệm cung cấp thông tin

1. Khi giao kết hợp đồng bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm có trách nhiệm cung cấp đầy đủ thông tin liên quan đến hợp đồng bảo hiểm, giải thích các điều kiện, điều khoản bảo hiểm cho bên mua bảo hiểm; bên mua bảo hiểm có trách nhiệm cung cấp đầy đủ thông tin liên quan đến đối tượng bảo hiểm cho doanh nghiệp bảo hiểm. Các bên chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực của thông tin đó. Doanh nghiệp bảo hiểm có trách nhiệm giữ bí mật về thông tin do bên mua bảo hiểm cung cấp.”

Với quy định trên, nếu mẹ quý khách biết về tình trạng bệnh lý nhưng không thông báo với công ty A thì công ty A phải chứng minh được điều đó và có quyền (i) đơn phương đình chỉ hợp đồng, không trả tiền bảo hiểm; (ii) thu phí bảo hiểm đến thời điểm đình chỉ thực hiện hợp đồng căn cứ theo quy định tại Điểm a Khoản 2 Điều 19 Văn bản hợp nhất số 12/VBHN-VPQH năm 2013. Ngược lại, nếu mẹ quý khách không biết về tình trạng bệnh lý thì hợp đồng bảo hiểm vẫn có hiệu lực.

Điều 19. Trách nhiệm cung cấp thông tin

2. Doanh nghiệp bảo hiểm có quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm và thu phí bảo hiểm đến thời điểm đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm khi bên mua bảo hiểm có một trong những hành vi sau đây:

a) Cố ý cung cấp thông tin sai sự thật nhằm giao kết hợp đồng bảo hiểmđể được trả tiền bảo hiểm hoặc được bồi thường”

Dựa vào những thông tin mà quý khách cung cấp, khi được hỏi trong vòng 5 năm trở lại đây có ốm, phẫu thuật hoặc điều trị tại bệnh viện không, rõ ràng trên thực tế, mẹ quý khách chỉ đi khám ở các phòng mạch tư và kết quả chẩn đoán đều là sức khỏe bình thường. Như vậy, việc không thông báo tình trạng bệnh lý với công ty A của mẹ quý khách là hoàn toàn phù hợp.

Bên cạnh đó, căn cứ theo quy định tại Điểm c Khoản 2 Điều 17 Văn bản hợp nhất số 12/VBHN-VPQH năm 2013, công ty A có nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm (mẹ quý khách qua đời) theo thỏa thuận của các bên trong hợp đồng bảo hiểm ký kết ngày 6/9/2016:

Điều 17. Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp bảo hiểm

2. Doanh nghiệp bảo hiểm có nghĩa vụ:

c) Trả tiền bảo hiểm kịp thời cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm.”

Quý khách có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án có thẩm quyền buộc công ty A thực hiện nghĩa vụ này và sử dụng các kết quả của những phòng mạch tư mà mẹ quý khách đã khám làm chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình theo các quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Chúng tôi hi vọng những phần tư vấn trên đây sẽ giúp quý khách giải đáp được các thắc mắc của mình. Xin vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi để chúng tôi có thể cung cấp dịch vụ tư vấn pháp lý tốt nhất cho quý khách.

Ghi chú:

Văn bản hợp nhất Luật Kinh doanh bảo hiểm

Văn bản hợp nhất 12/VBHN-VPQH năm 2013 hợp nhất Luật kinh doanh bảo hiểm do Văn phòng Quốc hội ban hành, hợp nhất:

  • Luật kinh doanh bảo hiểm số 24/2000/QH10 ngày 09 tháng 12 năm 2000 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 4 năm 2001; và
  • Luật số 61/2010/QH12 ngày 24 tháng 11 năm 2010 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật kinh doanh bảo hiểm, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2011.
Agree Comment 0 Agrees almost 4 years ago

Please Login or Register to Submit Answer

Directory ads
Need to talk to a lawyer?

Book a phone consultation with a top-rated lawyer on Lawfarm.