This site is under development, some of the functionalities may not work properly.
Anonymous
in Insurance Law
Asked May 15, 2017

Tranh chấp hợp đồng bảo hiểm tài sản – Bồi thường theo hợp đồng bảo hiểm

  • 1 Answer
  • 315 Views

Công ty tôi hoạt động trong lĩnh vực in ấn và cho thuê kho bãi, có trụ sở ở TPHCM. Ngày 30/6/2016, công ty tôi có ký một hợp đồng bảo hiểm với công ty bảo hiểm A cho các tài sản tại kho của công ty tôi theo điều khoản “Đơn vị tiêu chuẩn bảo hiểm hỏa hoạn và các rủi ro đặc biệt”.

Ngày 18/12/2016, mưa lớn kéo dài khiến toàn bộ lô hàng 500 máy điều hòa lưu giữ trong kho của công ty ngập trong nước, hư hỏng nặng. Công ty tôi đã có công văn yêu cầu công ty A bồi thường theo hợp đồng bảo hiểm. Tuy nhiên, công ty A đã từ chối bồi thường vì lý do đối tượng bị tổn thất trong sự cố này là tài sản không thuộc sở hữu của công ty tôi mà thuộc sở hữu của khách hàng do công ty tôi trông giữ; do đó, các hàng hóa bị tổn thất trong sự cố này không phải là tài sản được bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm đã ký.

Tôi xin hỏi Luật sư trong trường hợp này việc công ty A từ chối bồi thường cho công ty tôi có đúng không?

Answer 1

Vì thông tin quý công ty cung cấp chưa rõ, chúng tôi xin được chia thành hai (02) trường hợp để tư vấn:

  • Trường hợp 1: Danh mục tài sản thuộc đối tượng bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm ký kết ngày 30/6/2016 có quy định rõ công ty A chỉ nhận bảo hiểm cho những tài sản tại kho thuộc sở hữu của quý công ty

Trong trường hợp này, thiệt hại xảy ra đối với lô hàng 500 máy điều hòa tại kho của quý công ty do ngập úng không thuộc phạm vi bảo hiểm theo thỏa thuận của các bên. Do đó, việc công ty A từ chối bồi thường cho quý công ty là có cơ sở căn cứ theo quy định tại Điểm d Khoản 1 Điều 17 Văn bản hợp nhất 12/VBHN-VPQH năm 2013 hợp nhất Luật kinh doanh bảo hiểm do Văn phòng Quốc hội ban hành (“Văn bản hợp nhất 12/VBHN-VPQH năm 2013”):

Điều 17. Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp bảo hiểm

1. Doanh nghiệp bảo hiểm có quyền:

d) Từ chối trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc từ chối bồi thường cho người được bảo hiểm trong trường hợp không thuộc phạm vi trách nhiệm bảo hiểm hoặc trường hợp loại trừ trách nhiệm bảo hiểm theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm.”

  • Trường hợp 2: Danh mục tài sản thuộc đối tượng bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm ký kết ngày 30/6/2016 không quy định rõ công ty A chỉ nhận bảo hiểm cho những tài sản tại kho thuộc sở hữu của quý công ty

Theo đó, hợp đồng chỉ quy định công ty A nhận bảo hiểm cho đối tượng bảo hiểm là “các tài sản tại kho của quý công ty”. Đây được xem là một điều khoản không rõ ràng; bởi lẽ, khi các bên ký kết hợp đồng bảo hiểm ngày 30/6/2016, công ty A đã được quý công ty cung cấp thông tin đầy đủ về chức năng kinh doanh [“in ấn và cho thuê kho bãi”], công ty A buộc phải biết trong các tài sản tại kho của quý công ty có thể bao gồm tài sản thuộc sở hữu của quý công ty và các tài sản thuộc sở hữu của khách hàng thuê kho nhưng không tách bạch. Do đó, khi có tranh chấp xảy ra, điều khoản về đối tượng bảo hiểm sẽ được giải thích theo hướng có lợi cho quý công ty, tức là toàn bộ những tài sản tại kho của quý công ty (thuộc sở hữu của quý công ty hay không) đều thuộc đối tượng được công ty A bảo hiểm. Cụ thể, căn cứ theo quy định tại Điều 21 Văn bản hợp nhất 12/VBHN-VPQH năm 2013:

Điều 21. Giải thích hợp đồng bảo hiểm

Trong trường hợp hợp đồng bảo hiểm có điều khoản không rõ ràng thì điều khoản đó được giải thích theo hướng có lợi cho bên mua bảo hiểm.”

Căn cứ theo quy định tại Điểm d Khoản 1 Điều 18 và Khoản 1 Điều 28 Văn bản hợp nhất 12/VBHN-VPQH năm 2013, quý công ty có quyền yêu cầu công ty A bồi thường theo hợp đồng bảo hiểm trong thời hạn một (01) năm kể từ ngày xảy ra sự kiện bảo hiểm (18/12/2016):

[Điểm d Khoản 1 Điều 18 Văn bản hợp nhất 12/VBHN-VPQH năm 2013]

Điều 18. Quyền và nghĩa vụ của bên mua bảo hiểm

1. Bên mua bảo hiểm có quyền:

d) Yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm;

[Khoản 1 Điều 28 Văn bản hợp nhất 12/VBHN-VPQH năm 2013]

Điều 28. Thời hạn yêu cầu trả tiền bảo hiểm hoặc bồi thường

1. Thời hạn yêu cầu trả tiền bảo hiểm hoặc bồi thường theo hợp đồng bảo hiểm là một năm, kể từ ngày xảy ra sự kiện bảo hiểm. Thời gian xảy ra sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan khác không tính vào thời hạn yêu cầu trả tiền bảo hiểm hoặc bồi thường.”

Nếu công ty A vẫn từ chối bồi thường, quý công ty có thể khởi kiện tại Tòa án có thẩm quyền yêu cầu công ty A thực hiện nghĩa vụ; thời hiệu khởi kiện về hợp đồng bảo hiểm là 03 năm, kể từ thời điểm phát sinh tranh chấp. [Điều 30 Văn bản hợp nhất số 12/VBHN-VPQH năm 2013]

Chúng tôi hi vọng những phần tư vấn trên đây sẽ giúp quý khách giải đáp được các thắc mắc của mình. Xin vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi để chúng tôi có thể cung cấp dịch vụ tư vấn pháp lý tốt nhất cho quý khách.

Ghi chú:

Văn bản hợp nhất Luật Kinh doanh bảo hiểm

Văn bản hợp nhất 12/VBHN-VPQH năm 2013 hợp nhất Luật kinh doanh bảo hiểm do Văn phòng Quốc hội ban hành, hợp nhất:

  • Luật kinh doanh bảo hiểm số 24/2000/QH10 ngày 09 tháng 12 năm 2000 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 4 năm 2001; và
  • Luật số 61/2010/QH12 ngày 24 tháng 11 năm 2010 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật kinh doanh bảo hiểm, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2011.
Agree Comment 0 Agrees almost 4 years ago

Please Login or Register to Submit Answer

Directory ads
Need to talk to a lawyer?

Book a phone consultation with a top-rated lawyer on Lawfarm.