This site is under development, some of the functionalities may not work properly.
Anonymous
in Insurance Law
Asked May 15, 2017

Tranh chấp hợp đồng bảo hiểm tài sản – Căn cứ bồi thường bảo hiểm tài sản

  • 1 Answer
  • 170 Views

Tôi có mua bảo hiểm của công ty bảo hiểm X cho chiếc ôtô Mercedes năm chỗ của công ty trong thời gian một năm và đã đóng đủ tiền bảo hiểm gần 15 triệu đồng. Tối 11-11-2016, tôi có đến phường Đa kao (quận 1) ăn uống cùng bạn bè và gửi xe tại bãi đỗ xe công cộng tại trung tâm. Một lúc sau quay lại thì phát hiện chiếc xe đã bị mất cắp. Công an phường 6 đến lập biên bản việc mất cắp xe, có nhân viên giữ xe xác nhận trước đó có nhìn thấy chiếc xe của tôi. Ngoài ra, trong hợp đồng bảo hiểm cũng có quy định về việc công ty bảo hiểm sẽ phải bồi thường cho người mua trong trường hợp mất cắp toàn bộ do cướp có vũ trang, mất ở bãi giữ xe công cộng. Các Luật sư cho tôi hỏi,

• Trong trường hợp này, tôi có được yêu cầu công ty bảo hiểm X bồi thường cho tôi không?

• Số tiền tôi mua bảo hiểm cho xe là 1 tỷ đồng, tuy nhiên, tại thời điểm mất giá của xe trên thị trường là 1,2 tỷ đồng. Trong trường hợp này, số tiền tôi sẽ được bồi thường là bao nhiêu?

Answer 1

Nghĩa vụ của doanh nghiệp bảo hiểm

Theo quy định của Điều 40 Văn bản hợp nhất số 12/VBHN-VPHQ năm 2013 hợp nhất Luật Kinh doanh bảo hiểm (“Văn bản hợp nhất số 12/VBHN-VPQH năm 2013”), hợp đồng bảo hiểm giữa quý khách và công ty bảo hiểm X là hợp đồng bảo hiểm tài sản; bởi vì đối tượng được bảo hiểm ở đây là ô tô Mercedes.

Theo thông tin mà quý khách cung cấp, (i) quý khách gửi xe tại bãi đỗ xe công cộng tại trung tâm và chiếc xe đã bị mất cắp; (ii) Trong hợp đồng bảo hiểm cũng có quy định về việc công ty bảo hiểm sẽ “bồi thường cho người mua trong trường hợp mất cắp toàn bộ do cướp có vũ trang, mất ở bãi giữ xe công cộng”. Trong trường hợp này, việc mất xe ô tô của quý khách tại bãi giữ xe công cộng được xem là sự kiện bảo hiểm được quy định trong hợp đồng bảo hiểm của quý khách và công ty bảo hiểm X. Do đó, trong trường hợp này việc mất xe của quý khách thỏa mãn các điều kiện được bảo hiểm chi trả, quý khách hoàn toàn có thể yêu cầu công ty bảo hiểm X trả tiền bảo hiểm đối với chiếc xe ô tô của mình theo quy định tại Điểm c Khoản 2 Điều 17 và Điều 29 Văn bản hợp nhất số 12/VBHN-VPQH năm 2013, cụ thể:

Điều 17. Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp bảo hiểm

2. Doanh nghiệp bảo hiểm có nghĩa vụ:

…       

Trả tiền bảo hiểm kịp thời cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm".

 [Điểm c Khoản 2 Điều 17 Văn bản hợp nhất số 12/VBHN-VPQH năm 2013]

“Khi xảy ra sự kiện bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm hoặc bồi thường theo thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm; trong trường hợp không có thỏa thuận về thời hạn thì doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm hoặc bồi thường trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ hợp lệ về yêu cầu trả tiền bảo hiểm hoặc bồi thường.”

[Điều 29 Văn bản hợp nhất số 12/VBHN-VPQH năm 2013]

Căn cứ bồi thường

Căn cứ theo Điều 46 Văn bản hợp nhất số 12/VBHN-VPQH năm 2013 có quy định về căn cứ bồi thường trong bảo hiểm tài sản như sau:

  • Số tiền bồi thường mà doanh nghiệp bảo hiểm phải trả cho người được bảo hiểm được xác định trên cơ sở giá thị trường của tài sản được bảo hiểm tại thời điểm, nơi xảy ra tổn thất và mức độ thiệt hại thực tế, trừ trường hợp có thỏa thuận khác trong hợp đồng bảo hiểm. Chi phí để xác định giá thị trường và mức độ thiệt hại do doanh nghiệp bảo hiểm chịu.
  • Số tiền bồi thường mà doanh nghiệp bảo hiểm trả cho người được bảo hiểm không vượt quá số tiền bảo hiểm, trừ trường hợp có thỏa thuận khác trong hợp đồng bảo hiểm.
  • Ngoài số tiền bồi thường, doanh nghiệp bảo hiểm còn phải trả cho người được bảo hiểm những chi phí cần thiết, hợp lý để đề phòng, hạn chế tổn thất và những chi phí phát sinh mà người được bảo hiểm phải chịu để thực hiện chỉ dẫn của doanh nghiệp bảo hiểm.

Theo đó, trong trường hợp của quý khách, mặc dù tại thời điểm mất giá của xe trên thị trường là 1,2 tỷ đồng. Tuy nhiên, số tiền bảo hiểm thỏa thuận trong hợp đồng của quý khách và doanh nghiệp bảo hiểm X là 1 tỷ đồng. Do đó, trong trường hợp này, số tiền bồi thường mà doanh nghiệp bảo hiểm X sẽ trả cho quý khách [người được bảo hiểm] sẽ không vượt quá số tiền bảo hiểm là 1 tỷ đồng.

Chúng tôi hi vọng những phần tư vấn trên đây sẽ giúp quý khách giải đáp được các thắc mắc của mình. Xin vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi để chúng tôi có thể cung cấp dịch vụ tư vấn pháp lý tốt nhất cho quý khách.

Ghi chú:

Văn bản hợp nhất Luật Kinh doanh bảo hiểm

Văn bản hợp nhất số 12/VBHN-VPQH năm 2013 hợp nhất Luật kinh doanh bảo hiểm do Văn phòng Quốc hội ban hành, hợp nhất:

  • Luật kinh doanh bảo hiểm số 24/2000/QH10 ngày 09 tháng 12 năm 2000 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 4 năm 2001; và
  • Luật số 61/2010/QH12 ngày 24 tháng 11 năm 2010 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật kinh doanh bảo hiểm, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2011.
Agree Comment 0 Agrees almost 4 years ago

Please Login or Register to Submit Answer

Directory ads
Need to talk to a lawyer?

Book a phone consultation with a top-rated lawyer on Lawfarm.