This site is under development, some of the functionalities may not work properly.
Anonymous
in Insurance Law
Asked May 15, 2017

Tranh chấp hợp đồng bảo hiểm tài sản – Vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin

  • 1 Answer
  • 152 Views

Tôi là nhân viên của công ty bảo hiểm X tại thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 13/5/2016 công ty bảo hiểm của tôi có ký kết hợp đồng bán bảo hiểm cho ông Nguyễn Văn A đối với bảo hiểm cho chiếc tàu BV 503 thuộc chủ sở hữu của ông A. Nội dung mua bảo hiểm phần giá trị vỏ tàu là 200 triệu đồng, phần máy tàu trị giá 20 triệu đồng, phí bảo hiểm của 1 năm là 5.900.000 đồng với thời hạn là 1 năm.

Ngày 11/10/2016 khi đang đi đánh bắt cá ở Long Hải thì thuyền của ông A bị sóng đánh lật úp nên chìm. Khi sự cố xảy ra, ông A đã báo đến đồn biên phòng 500 ở Long Hải và trạm bảo hiểm của công ty có chi nhánh tại Long Hải. Sau đó, ngày 15/10/2016 ông A có điều tàu đến kéo nhưng bị đứt dây kéo nên ông A cho thợ lặn xuống tháo được máy tàu còn thân tàu bị chìm. Sau đó, ông A đã tiến hành bán phần máy tàu và đến công ty bảo hiểm của tôi để yêu cầu bồi thường cho phần thân tàu. Tuy nhiên, sau khi xác minh, chúng tôi xác định được như sau:

- Số chứng nhận tàu cá BV 503 của Chi cục bảo vệ nguồn lợi thủy sản tỉnh Bà Rịa, Vũng Tàu thể hiện tàu BV503 của ông A có máy tàu loại KOBUTA, trong khi giấy yêu cầu bảo hiểm của chủ tàu lại để là máy DAIYA (Giá máy KOBUTA rẻ hơn nhiều lần so với DAIYA); và

- Việc tự ý tháo dỡ máy tàu dưới biển đã làm phá bỏ thân tàu. Trong khi bộ phận máy tàu có giá rẻ hơn rất nhiều so với bộ phận thân tàu.

Các Luật sư cho tôi hỏi, trong trường hợp này, công ty bảo hiểm của tôi có phải bồi thường chô ông A không? Tôi xin chân thành cảm ơn.

Answer 1

Theo thông tin mà quý khách cung cấp, trong trường hợp này, công ty bảo hiểm có quyền từ chối yêu cầu bảo hiểm của ông A là phù hợp.

Theo quy định của pháp luật, khi giao kết hợp đồng bảo hiểm,  bên mua bảo hiểm có trách nhiệm cung cấp đầy đủ thông tin liên quan đến đối tượng bảo hiểm cho doanh nghiệp bảo hiểm và chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực của thông tin đó căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 19 Văn bản hợp nhất số 12/VBHN-VPQH năm 2013 hợp nhất Luật kinh doanh bảo hiểm do Văn phòng Quốc hội ban hành (“Văn bản hợp nhất 12/VBHN-VPQH năm 2013”).

Theo như thông tin mà quý công ty bảo hiểm đã xác minh:

  • Số chứng nhận tàu cá BV 503 của Chụ cục bảo vệ nguồn lợi thủy sản tỉnh Bà Rịa, Vũng Tàu thể hiện tàu BV503 của ông A có máy tàu loại KOBUTA, trong khi giấy yêu cầu bảo hiểm của chủ tàu lại để là máy DAIYA; và
  • Việc tự ý tháo dỡ máy tàu dưới biển đã làm phá bỏ thân tàu. Trong khi bộ phận máy tàu có giá rẻ hơn rất nhiều so với bộ phận thân tàu.
  • Trong trường hợp này, việc ông A cố ý cung cấp thông tin sai sự thật nhằm hưởng số tiền cao hơn giá trị thực tế của tài sản bảo hiểm [máy tàu hiệu KOBUTA nhưng chủ tàu đã khai trong giấy yêu cầu bảo hiểm là DAIYA] đã vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin theo quy định tại Khoản 1 Điều 19 Văn bản hợp nhất số 12/VBHN-VPQH năm 2013.

    Ngoài ra, khi xảy ra sự việc [tàu bị đắm], ông A đã tự ý tháo gỡ máy [việc này đồng nghĩa với hành vi phá bỏ thân tàu] sau đó đem đi bán khi chưa có sự đồng ý của cơ quan chức năng và doanh nghiệp bảo hiểm. Trong khi đó, giá trị của thân tàu được bảo hiểm là 200 triệu đồng, trong khi giá trị của máy chỉ được bảo hiểm ở mức 20 triệu đồng. Do đó, cho thấy trong trường hợp này, ông A đã cố tình cung cấp sai thông tin về máy tàu nên muốn phi tang bằng việc trục vớt và phi tang nhằm che giấu cho hành vi vi phạm của mình.

    Từ những phân tích trên cho thấy, việc ông A vi phạm nghĩa vụ thông báo thông tin thì doanh nghiệp bảo hiểm được quyền đơn phương đình chỉ hợp đồng và thu phí theo quy bảo hiểm đến thời điểm đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm căn cứ theo quy định tại Điểm a Khoản 2 Điều 19 Văn bản hợp nhất số 12/VBHN-VPQH năm 2013. Cụ thể:

    Điều 19. Trách nhiệm cung cấp thông tin

    2. Doanh nghiệp bảo hiểm có quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm và thu phí bảo hiểm đến thời điểm đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm khi bên mua bảo hiểm có một trong những hành vi sau đây:

    a) Cố ý cung cấp thông tin sai sự thật nhằm giao kết hợp đồng bảo hiểm để được trả tiền bảo hiểm hoặc được bồi thường;

    b) Không thực hiện các nghĩa vụ trong việc cung cấp thông tin cho doanh nghiệp bảo hiểm theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 18 của Luật này.”

    Chúng tôi hi vọng những phần tư vấn trên đây sẽ giúp quý khách giải đáp được các thắc mắc của mình. Xin vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi để chúng tôi có thể cung cấp dịch vụ tư vấn pháp lý tốt nhất cho quý khách.

    Ghi chú

    Văn bản hợp nhất Luật Kinh doanh bảo hiểm

    Văn bản hợp nhất số 12/VBHN-VPQH năm 2013 hợp nhất Luật kinh doanh bảo hiểm do Văn phòng Quốc hội ban hành, hợp nhất:

    • Luật kinh doanh bảo hiểm số 24/2000/QH10 ngày 09 tháng 12 năm 2000 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 4 năm 2001; và
    • Luật số 61/2010/QH12 ngày 24 tháng 11 năm 2010 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật kinh doanh bảo hiểm, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2011.
    Agree Comment 0 Agrees almost 4 years ago

    Please Login or Register to Submit Answer

    Directory ads
    Need to talk to a lawyer?

    Book a phone consultation with a top-rated lawyer on Lawfarm.