This site is under development, some of the functionalities may not work properly.
Anonymous
in Insurance Law
Asked May 15, 2017

Tranh chấp hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự - Trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm

  • 1 Answer
  • 182 Views

Tôi là thành viên của công ty TNHH Dịch vụ bảo vệ tại thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 10/3/2016 Công ty tôi có ký hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp [những trách nhiệm phát sinh mà công ty bảo vệ phải bồi thường cho khách hàng của mình do những lỗi sơ suất về chuyên môn] với Công ty bảo hiểm X có trụ sở tại quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 10/9/2016, trong lúc sơ suất, nhân viên của tôi đã có để trộm vào lấy mất chiếc xe SH của một khách hàng và công ty phải bồi thường hơn 97 triệu đồng.

Sau đó căn cứ vào hợp đồng bảo hiểm, công ty chúng tôi yêu cầu Công ty bảo hiểm X phải hoàn lại cho mình số tiền trên. Tuy nhiên, phía công ty bảo hiểm X từ chối với lý do sự cố trên không thuộc phạm vi bảo hiểm, việc mất xe là do lỗi của công ty bảo vệ bởi vì công ty bảo vệ đã giữ xe của khách nhưng không giao thẻ.

Tuy nhiên, chúng tôi không đồng ý vì nguyên nhân nhân viên bảo vệ không giao thẻ là vì do khách đó là khách quen của công ty. Ngoài ra, sau khi bị mất xe, công ty chúng tôi đã báo cơ quan công an và công ty bảo hiểm là đúng quy trình, đúng quy định. Công an cũng đã xác minh rằng nhân viên bảo vệ làm mất xe là lỗi vô ý, không có giấu hiệu lừa đảo chiếm đoạt tài sản, nên không truy tố trách nhiệm hình sự. Do đó, các Luật sư cho tôi hỏi, trong trường hợp này, chúng tôi có quyền khởi kiện tại Tòa án yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm A bồi thường hay không? Tôi xin chân thành cảm ơn.

Answer 1

Theo thông tin mà quý khách cung cấp, trong trường hợp này, công ty bảo hiểm X có trách nhiệm phải bồi thường cho quý công ty [Công ty TNHH Dịch vụ bảo vệ]. Bởi lẽ, căn cứ tại khoản 1 Điều 53 Văn bản hợp nhất số 12/VBHN-VPHQ năm 2013 hợp nhất Luật Kinh doanh bảo hiểm (“Văn bản hợp nhất số 12/VBHN-VPQH năm 2013”) có quy định về trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm cụ thể như sau

Điều 53. Trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm

1. Trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm chỉ phát sinh nếu người thứ ba yêu cầu người được bảo hiểm bồi thường thiệt hại do lỗi của người đó gây ra cho người thứ ba trong thời hạn bảo hiểm”

Dựa vào quy định trên, trong trường hợp này, công ty bảo hiểm X phải có trách nhiệm chi trả lại số tiền đã bồi thường của quý khách theo quy định tại khoản 1 Điều 53 Văn bản hợp nhất số 12/VBHN-VPQH năm 2013. Bởi lẽ:

  • Quý công ty là người được bảo hiểm [công ty quý khách có ký hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp với Công ty bảo hiểm X];
  • Quý công ty phải có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại đối với người thứ ba là chủ sở hữu hợp pháp của xe máy;
  • Người thứ ba [người khách bị mất xe máy hiệu SH] có yêu cầu quý công ty bồi thường số tiền là 97 triệu đồng.
  • Ngoài ra, việc nhân viên bảo vệ của quý công ty giữ xe nhưng không giao thẻ dẫn đến mất xe là có lỗi. Tuy nhiên, đây là lỗi chủ quan, sơ suất trong khi thực hiện nhiệm vụ của nhân viên bảo vệ [công an cũng đã xác minh rằng nhân viên bảo vệ làm mất xe là lỗi vô ý, không có giấu hiệu lừa đảo chiếm đoạt tài sản]. Bởi vì việc không giao thẻ cho khách diễn ra từ trước đến khi xảy ra sự cố do hai bên quen biết nhau. Do đó, đây có thể xem là lỗi sơ suất về chuyên môn, là một trong những sự kiện bảo hiểm được quy định trong hợp đồng [1]. Thế nên công ty bảo hiểm X viện lý do việc giữ xe không có thẻ để từ chối trả bảo hiểm là không phù hợp. Ngoài ra, sau khi bị mất xe, công ty bảo vệ đã báo cơ quan công an, báo với công ty bảo hiểm là đúng quy trình, đúng quy định. hợp đồng bảo hiểm vẫn còn hiệu lực nên công ty bảo hiểm phải thanh toán số tiền như công ty bảo vệ yêu cầu.

    Chúng tôi hi vọng những phần tư vấn trên đây sẽ giúp quý khách giải đáp được các thắc mắc của mình. Xin vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi để chúng tôi có thể cung cấp dịch vụ tư vấn pháp lý tốt nhất cho quý khách.

    Ghi chú:

    Văn bản hợp nhất Luật Kinh doanh bảo hiểm

    Văn bản hợp nhất 12/VBHN-VPQH năm 2013 hợp nhất Luật kinh doanh bảo hiểm do Văn phòng Quốc hội ban hành, hợp nhất:

    • Luật kinh doanh bảo hiểm số 24/2000/QH10 ngày 09 tháng 12 năm 2000 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 4 năm 2001; và
    • Luật số 61/2010/QH12 ngày 24 tháng 11 năm 2010 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật kinh doanh bảo hiểm, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2011.

     

    [1] Theo quy định tại khoản 9 và 10. Điều 3 Văn bản hợp nhất số 12/VBHN-VPQH năm 2013 có giải thích sự kiện bảo hiểm là sự kiện khách quan do các bên thỏa thuận hoặc pháp luật quy định mà khi sự kiện đó xảy ra thì doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm.

    Agree Comment 0 Agrees almost 4 years ago

    Please Login or Register to Submit Answer

    Directory ads
    Need to talk to a lawyer?

    Book a phone consultation with a top-rated lawyer on Lawfarm.