This site is under development, some of the functionalities may not work properly.
Anonymous
in Insurance Law
Asked May 15, 2017

Tranh chấp hợp đồng bảo hiểm tài sản – Bồi thường thiệt hại cho thiết bị và xe ô tô gửi tại garage

  • 1 Answer
  • 273 Views

Công ty tôi là một công ty chuyên cung cấp bảo hiểm phi nhân thọ cho khách hàng, vừa thành lập và hoạt động ở TPHCM. Ngày 17/8/2016, công ty tôi có cấp Giấy chứng nhận bảo hiểm cho garage thuộc sở hữu của công ty A với thời hạn bảo hiểm là 3 năm, công ty A đã đóng đủ phí bảo hiểm trong cùng ngày. Theo Giấy chứng nhận này, công ty A mua bảo hiểm cháy nổ hoặc mọi rủi ro tài sản đối với garage cùng các máy móc, thiết bị, hàng hóa thuộc sở hữu của công ty A.

Hai ngày trước, công ty tôi nhận được tin garage của công ty A bị rò rỉ nhiên liệu dẫn đến cháy, gây thiệt hại cho các thiết bị của công ty A và xe ô tô mà khách gửi. Luật sư cho tôi hỏi, trong trường hợp này, nếu công ty A có yêu cầu bồi thường cho tài sản bị tổn thất, chúng tôi chỉ phải bồi thường đối với phần thiết bị đã thiệt hại đúng không?

Answer 1

Theo quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, trong trường hợp này, quý công ty chỉ phải bồi thường đối với thiết bị thuộc sở hữu của công ty A thiệt hại do rò rỉ nhiên liệu dẫn đến cháy garage, thuộc phạm vi bảo hiểm trong Giấy chứng nhận bảo hiểm; quý công ty không có nghĩa vụ bồi thường đối với thiệt hại xe ô tô mà khách gửi tại garage của công ty A.

Thứ nhất, dựa vào những thông tin mà quý công ty cung cấp, trách nhiệm bảo hiểm của quý công ty (bên bảo hiểm) đối với công ty A (bên mua bảo hiểm) phát sinh tại thời điểm (i) quý công ty cấp Giấy chứng nhận bảo hiểm cho garage thuộc sở hữu của công ty A và (ii) công ty A đóng đủ phí bảo hiểm, tức ngày 17/8/2016. Cụ thể căn cứ theo quy định tại Khoản 3 Điều 15 và Điều 14 Văn bản hợp nhất 12/VBHN-VPQH năm 2013 hợp nhất Luật kinh doanh bảo hiểm do Văn phòng Quốc hội ban hành (“Văn bản hợp nhất 12/VBHN-VPQH năm 2013”):

[Khoản 3 Điều 15]

Điều 15. Thời điểm phát sinh trách nhiệm bảo hiểm

Trách nhiệm bảo hiểm phát sinh khi có một trong những trường hợp sau đây:

3. Có bằng chứng về việc hợp đồng bảo hiểm đã được giao kết và bên mua bảo hiểm đã đóng đủ phí bảo hiểm.”

[Điều 14]

Điều 14. Hình thức hợp đồng bảo hiểm

Hợp đồng bảo hiểm phải được lập thành văn bản.

Bằng chứng giao kết hợp đồng bảo hiểm là giấy chứng nhận bảo hiểm, đơn bảo hiểm, điện báo, telex, fax và các hình thức khác do pháp luật quy định.”

Điểm d Khoản 1 và Điểm c, d Khoản 2 Điều 17 Văn bản hợp nhất 12/VBHN-VPQH năm 2013 có quy định:

Điều 17. Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp bảo hiểm

1. Doanh nghiệp bảo hiểm có quyền:

d) Từ chối trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc từ chối bồi thường cho người được bảo hiểm trong trường hợp không thuộc phạm vi trách nhiệm bảo hiểm hoặc trường hợp loại trừ trách nhiệm bảo hiểm theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm;

2. Doanh nghiệp bảo hiểm có nghĩa vụ:

c) Trả tiền bảo hiểm kịp thời cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm;

d) Giải thích bằng văn bản lý do từ chối trả tiền bảo hiểm hoặc từ chối bồi thường.”

Theo đó, khi công ty A có yêu cầu bồi thường cho tài sản bị tổn thất, quý công ty chỉ phải bồi thường đối với phần thiết bị thiệt hại thuộc sở hữu của công ty A theo phạm vi bảo hiểm mà các bên đã thỏa thuận trong Giấy chứng nhận bảo hiểm [“bảo hiểm cháy nổ hoặc mọi rủi ro tài sản đối với garage cùng các máy móc, thiết bị, hàng hóa thuộc sở hữu của công ty A”]; đồng thời, quý công ty có quyền từ chối bồi thường thiệt hại cho xe ô tô mà khách gửi tại garage của công ty A bởi lẽ đây không thuộc danh mục tài sản được bảo hiểm nêu trên nhưng phải giải thích bằng văn bản lý do bồi thường.

Thứ hai, công ty A có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho xe ô tô của khách gửi tại garage theo hợp đồng gửi giữ tài sản mà công ty A đã giao kết với khách, căn cứ theo quy định tại Khoản 4 Điều 562 Bộ luật Dân sự 2005:

Điều 562. Nghĩa vụ của bên giữ tài sản

Bên giữ tài sản có các nghĩa vụ sau đây:

4. Phải bồi thường thiệt hại, nếu làm mất mát, hư hỏng tài sản gửi giữ, trừ trường hợp bất khả kháng.”

Chúng tôi hi vọng những phần tư vấn trên đây sẽ giúp quý khách giải đáp được các thắc mắc của mình. Xin vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi để chúng tôi có thể cung cấp dịch vụ tư vấn pháp lý tốt nhất cho quý khách.

Ghi chú:

Văn bản hợp nhất Luật Kinh doanh bảo hiểm

Văn bản hợp nhất 12/VBHN-VPQH năm 2013 hợp nhất Luật kinh doanh bảo hiểm do Văn phòng Quốc hội ban hành, hợp nhất:

  • Luật kinh doanh bảo hiểm số 24/2000/QH10 ngày 09 tháng 12 năm 2000 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 4 năm 2001; và
  • Luật số 61/2010/QH12 ngày 24 tháng 11 năm 2010 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật kinh doanh bảo hiểm, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2011.
Agree Comment 0 Agrees almost 4 years ago

Please Login or Register to Submit Answer

Directory ads
Need to talk to a lawyer?

Book a phone consultation with a top-rated lawyer on Lawfarm.